CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC TUÂN THỦ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN 1.1 Tổng quan về đạo đức và đạo đức nghề nghiệp 1.1 Khái niệm đạo đức và đạo đức nghề nghiệp a. Khái niệm đạo đức Theo từ điển Wikipedia tiếng Việt, “Đạo là lẽ phải, là con đường, là nguyên tắc mà con người có bổn phận giữ gìn và tuân theo trong cuộc sống, còn đức là điều tốt lành”. Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của con người. Nói cách khác, đạo đức là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của một tập hợp người nhất định về thế giới, về cách sống.
Nhờ đó con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội. Một số nguyên tắc đạo đức căn bản thường được thiết lập như: sự trung thực, tính có trách nhiệm, lương thiện, thẳng thắn, công bằng, ngay thẳng, tuân thủ nghĩa vụ công dân. Trên thế giới có rất nhiều tác giả nghiên cứu về đạo đức đều cho rằng đạo đức là không thể thiếu trong xã hội vì nó chính là cơ sở để xã hội phát triển một cách bền vững và tốt đẹp. Tiêu biểu như nhà kinh tế học Adam Smith (1790/1976) và nhà xã hội học Georg Simmel (1950), cá nhân có đạo đức, xã hội có đạo đức là cơ sở mà ở đó tất cả các xã hội và nền kinh tế phát triển mạnh vì đạo đức đồng nghĩa với việc tạo ra sự hài hòa xã hội.
Ở cấp độ tổng hợp, đạo đức có liên quan đến những tố chất căn bản do các tổ chức, cộng đồng và các nền văn hóa thiết lập (Cameron et al. Libby and Thorne (2007), đạo đức là chuẩn mực liên quan đến phẩm chất, phản ánh xu hướng của một cá nhân khi chọn lựa hành động hợp với đạo lý, và bằng cách đó thể hiện những lý tưởng của cộng đồng mà cá nhân đó thuộc về. Đạo đức được phát triển trong suốt cuộc đời thông qua thói quen, quan sát và giáo dục. Đạo đức đòi hỏi việc theo đuổi đạo lý 123doc 7 vượt ra ngoài sự phụ thuộc vào các quy tắc và là kết quả từ một định nghĩa chung các giá trị của một cộng đồng cụ thể.
Khái niệm đạo đức nghề nghiệp Nếu như đạo đức là những nguyên tắc căn bản cần tuân thủ trong cách ứng xử giữa người với người nhằm giúp con người được người khác tôn trọng và xã hội phát triển bền vững, thì đạo đức nghề nghiệp là những nguyên tắc căn bản mà người hành nghề cần tuân thủ để giúp cho nghề nghiệp phát triển tốt đẹp. Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức xã hội, là các nguyên tắc đạo đức cụ thể trong đạo đức chung của xã hội phù hợp với từng nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp là những yêu cầu đặc biệt, có liên quan đến việc tiến hành một hoạt động nghề nghiệp nào đó. Nó là tổng hợp của các quy tắc, các nguyên tắc chuẩn mực của một lĩnh vực nghề nghiệp trong đời sống, nhờ đó mà mọi thành viên của lĩnh vực nghề nghiệp đó tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích và sự tiến bộ của nó trong mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể của xã hội.
Tuân theo các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp sẽ tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp. Các nguyên tắc đạo đức cho từng nghề nghiệp không giống nhau mà tùy thuộc vào đặc điểm của từng nghề nghiệp, chẳng hạn như đạo đức trong kinh doanh sẽ khác với y đức hay đạo đức của ngành luật.2 Đạo đức nghề nghiệp cho người hành nghề kiểm toán 1.1 Khái niệm đạo đức nghề nghiệp kiểm toán “Đạo đức nghề nghiệp được định nghĩa là những quy tắc để hướng dẫn cho các thành viên ứng xử và hoạt động một cách trung thực, phục vụ cho lợi ích chung của nghề nghiệp và xã hội. Đạo đức nghề nghiệp yêu cầu kiểm toán viên phải là người có đạo đức, và mỗi tổ chức kiểm toán phải là cộng đồng của những người có đạo đức. Bên cạnh luật pháp và cùng với luật pháp, chính việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp cho các thành viên luôn duy trì được một thái độ nghề nghiệp đúng đắn, giúp bảo vệ và 123doc 8 nâng cao uy tín cho nghề kiểm toán trong xã hội, bởi vì nó tạo nên sự bảo đảm về chất lượng cao của dịch vụ cung ứng cho khách hàng và xã hội.” [11] Nghề kiểm toán là một nghề nghiệp mà sự tồn tại phụ thuộc vào niềm tin của xã hội.
Do vậy, đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán nhằm đảm bảo người hành nghề đạt được những tiêu chuẩn cao nhất về trình độ chuyên môn, về mức độ hoạt động và đáp ứng được sự quan tâm ngày càng cao của công chúng. Mục đích đạo đức nghề nghiệp kiểm toán nhằm đạt bốn yêu cầu cơ bản sau: a) Sự tín nhiệm: Nâng cao sự tín nhiệm của xã hội đối với hệ thống thông tin của kiểm toán; b) Chất lượng dịch vụ: Tạo sự công nhận của chủ doanh nghiệp, tổ chức, khách hàng và các bên liên quan về tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên hành nghề; c) Sự tin cậy: Tạo ra sự tin cậy của người sử dụng dịch vụ kiểm toán về khả năng chi phối của chuẩn mực đạo đức đối với việc cung cấp các dịch vụ đó. Có nhiều các nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp, hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động kiểm toán là điều cần thiết. Keim và Grant (2003) nhấn mạnh rằng đạo đức là rất quan trọng bởi vì kiểm toán viên ''được dự kiến sẽ liên tục đưa ra quyết định đạo đức khi phải đối mặt với tình huống khó xử khi thực hiện kiểm toán''.
Đây là những tình huống khó xử mà các hệ thống dựa trên luật lệ không thể giải quyết thỏa đáng. Kiểm toán viên có đạo đức thường có xu hướng để đảm bảo rằng, đánh giá chuyên môn của họ được thực hiện một cách khách quan, và sẽ ít có khả năng bị ảnh hưởng do áp lực từ khách hàng. Jones et al. (2003) cho rằng đạo đức của kiểm toán viên là đặc biệt quan trọng khi các quy tắc kế toán không đầy đủ hoặc không tồn tại.
Theo nghiên cứu của Libby and Thorne (2003), các đức tính quan trọng của kiểm toán viên: tính chính trực và trung thực - được xếp hạng là quan trọng nhất. Ba đức tính quan trọng tiếp theo là tính khách quan, độc lập và tuân thủ chuẩn mực. Sau đó, Libby and Thorne (2007) cho rằng, đạo đức của kiểm toán viên bao gồm bốn yếu tố 123doc 9 là đạo đức bắt buộc, đạo đức không bắt buộc, cải thiện đạo đức và công cụ đạo đức. Trong đó, các yếu tố đạo đức quan trọng gồm: - Đạo đức không bắt buộc (Non-mandatory moral): tính minh bạch, cẩn thận, công bằng.
- Đạo đức bắt buộc (Mandatory moral): chính trực, độc lập, khách quan, tuân thủ chuẩn mực, thực hiện nguyên tắc chuyên môn. - Đạo đức nâng cao (Meliorating): nhiệt tình, chín chắn, lịch thiệp. - Công cụ đạo đức (Instrumental auditors’ virtue): cảnh giác, chu đáo, siêng năng, tháo vát. Jones et al.
(2003) cũng cho rằng nguyên tắc đạo đức của kiểm toán viên bao gồm các nguyên tắc nền tảng của nghề kiểm toán, chẳng hạn như: thận trọng nghề nghiệp, độc lập, khách quan, hoài nghi chuyên nghiệp, và trung thực. Buys et al. (2012) cho rằng các đức tính quan trọng gồm: chính trực, khách quan, bảo mật, năng lực chuyên môn và thận trọng. Nhìn chung, nghiên cứu của các tác giả đều thiết lập các nguyên tắc khá tương đồng, nó chính là những quy tắc để hướng dẫn cho các thành viên ứng xử và hoạt động một cách trung thực, phục vụ cho lợi ích của nghề nghiệp và xã hội.
Hay chính các quy định về đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp nâng cao chất lượng kiểm toán và tăng cường niềm tin của công chúng vào các thông tin được công bố.2 Các nguyên tắc của đạo đức nghề nghiệp theo Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) a. Lịch sử phát triển các quy định về đạo đức nghề nghiệp kiểm toán Các quy định về đạo đức nghề nghiệp cho người hành nghề kiểm toán được hình thành do mối liên hệ giữa nghề nghiệp và môi trường xã hội đã trải qua nhiều năm hình thành và phát triển. Có thể chia thành ba giai đoạn sau: 123doc 10 Giai đoạn hình thành Nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán trước hết xuất hiện ở Anh vào thế kỷ 19. Khi các nhà đầu tư Anh quốc mở rộng đầu tư sang các quốc gia thuộc địa, họ cần có người giám sát các khoản đầu tư khi vắng mặt và trách nhiệm đó được giao cho kiểm toán viên.
Để có thể tin cậy vào kiểm toán viên, các nhà đầu tư Anh quốc cấm kiểm toán viên đầu tư hay làm việc cho công ty được kiểm toán. Thuật ngữ đạo đức lúc này chỉ giới hạn ở sự trung thành của kiểm toán viên với các nhà đầu tư ở chính quốc, vì vậy, trong thời kỳ này, kiểm toán viên có thể thực hiện dịch vụ kế toán hay soạn thảo báo cáo tài chính cho công ty được kiểm toán. Có thể nói, trong giai đoạn này, chưa có chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp mà chỉ có một số yêu cầu về đạo đức đối với người hành nghề. Các yêu cầu này là khởi điểm cho chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp sau này.
Giai đoạn phát triển Quan niệm về đạo đức của kiểm toán viên đã không ngừng thay đổi vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Trong thời gian này, do có sự dịch chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác và hợp nhất các công ty lớn ở Anh trong ngành khai thác mỏ, đường sắt, nhiên liệu, điện thoại,. đã dẫn đến sự thay đổi trong quan điểm về mục đích, bản chất và nguồn đầu tư vào các công ty. Từ đó, nhiệm vụ của kiểm toán viên chuyển sang phục vụ cho cổ đông trong cộng đồng hơn là lợi ích của người chủ sở hữu vắng mặt.
Nhóm cổ đông trong cộng đồng chủ yếu là các nhà đầu tư địa phương, mà thường là các ngân hàng lớn hay các nhà đầu tư lớn. Năm 1993, Hoa Kỳ thành lập Ủy ban chứng khoán (Securities and Exchange Commission – SEC) đã dẫn đến quan điểm mới về tính độc lập của kiểm toán viên.