Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những nghiên cứu có liên quan đến định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân 1. Nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp Các nghiên cứu ở nước ngoài về đạo đức nghề nghiệp Trong giai đoạn hiện nay, các quốc gia trên thế giới luôn đề cao vai trò của giá trị đạo đức nghề nghiệp đối với các nghề khác nhau trong xã hội. Xã hội càng phát triển, ngành nghề càng trở nên đa dạng, phong phú thì vấn đề đạo đức nghề nghiệp càng được quan tâm nghiên cứu.
Rest (1994), Phát triển đạo đức trong các ngành nghề [94], nghiên cứu đã đề cập đến vai trò nền tảng của đạo đức nghề nghiệp trong việc phát triển các ngành nghề. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã thống kê các giá trị đạo đức của các nghề nghiệp khác nhau trong xã hội, chủ yếu được nhắc đến là nghề bác sĩ, kế toán, giáo viên. Trong nghiên cứu đã thể hiện sự coi trọng giá trị đạo đức trong các ngành nghề của xã hội. Giá trị đạo đức nghề nghiệp góp phần điều chỉnh hành vi nghề nghiệp và giúp cá nhân, người lao động, viên chức, công chức hình thành được những phẩm chất, năng lực nghề.
Rennie (2001), tìm hiểu về Thái độ của sinh viên ngành y khoa [76], để kết luận: liệu các bác sĩ trong tương lai có trung thực hay không. Tác giả đã đề cập đến đạo đức nghề nghiệp của các bác sĩ. Trong đó, tính trung thực và sự chính trực là những giá trị đạo đức chính của các bác sĩ, nhà nghiên cứu đã kiểm tra thái độ và hành vi gian lận của sinh viên cũng như phỏng vấn họ về hành vi vi phạm đạo đức mà họ có thể gặp phải khi thực hành làm bác sĩ [dẫn theo 76]. Qua nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra được thực trạng thái độ của sinh viên ngành y khoa đối với những hành vi đạo đức của các bác sĩ.
Sự không đồng tình đối với các hành vi phi đạo đức đối với nghề y được sinh viên thể hiện rõ trong thái độ cảm xúc của họ. Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy vai trò của các giá trị đạo đức đối với việc điều chỉnh hành vi nghề nghiệp của sinh viên. Lord (2004), Kiểm tra định hướng đạo đức và giá trị của sinh viên Tư pháp hình sự [76], trong công trình nghiên cứu tác giả đã đề cập đến đạo đức nghề nghiệp có liên quan đến văn hoá nghề nghiệp. Cụ thể, ông cho rằng các viên chức thực thi pháp luật trong hoạt động nghề thường phải đối mặt với những cám dỗ hiếm khi gặp phải trong các ngành nghề khác như: tiếp xúc với một lượng lớn tiền mặt, ma túy, được uỷ quyền sử dụng vũ lực, vũ khí nhằm hoàn thành mục tiêu của họ.
Vì vậy mà vấn đề đạo đức nghề, văn hoá nghề nghiệp được coi trọng trong quá trình quản lý và điều hành của những nhà quản lý, giáo dục… G. Collste (2012), “Đạo đức nghề nghiệp và ứng dụng” [80], trong nghiên cứu, tác giả đã đề cập đến “đạo đức nghề nghiệp là đạo đức trong công việc. Có mối quan hệ giữa đạo đức ứng dụng và đạo đức nghề nghiệp, thậm chí có thể nói rằng, đạo đức nghề nghiệp là sự phản ánh của đạo đức ứng dụng” [80; tr. Đạo đức nghề nghiệp của bác sĩ, y tá và nhà trị liệu, có một điểm tương đồng với đạo đức y tế và chăm sóc sức khoẻ.
Đạo đức nghề nghiệp của doanh nhân có những điểm tương đồng với đạo đức kinh doanh,… Tuy nhiên, đạo đức nghề nghiệp và đạo đức ứng dụng có một số điểm khác biệt cố hữu. Đạo đức nghề nghiệp dựa trên thực tiễn của một nghề, trong khi đạo đức ứng dụng chủ yếu là một nỗ lực học tập. Beikzad (2012), Đạo đức nghề nghiệp. Ở nghiên cứu này, các tác giả đã đưa ra quan niệm về đạo đức nghề nghiệp trên cơ sở đạo đức công ty và năng lực nghề nghiệp.
Đồng thời, các tác giả đã xây dựng thang đo cho hai yếu tố năng lực hành nghề và đạo đức công ty. Thang đo năng lực hành nghề gồm 17 câu hỏi được kế thừa từ nghiên cứu của Beikzad (2012) tại ngân hàng Agriculture Bank, Iran. Thang đo đạo đức công ty bao gồm 5 câu hỏi được kế thừa từ nghiên cứu của Valentine và Fleischman (2008) [dẫn theo 60, tr. Qua kết quả thống kê, phân tích về các công trình nghiên cứu liên quan đến đạo đức nghề nghiệp, cho thấy: các công trình này đã chỉ ra thành phần, cấu trúc và đặc điểm của đạo đức nghề nghiệp, buộc cá nhân hành nghề phải 15 tuân theo.
Đó cũng là việc ứng dụng các nguyên tắc đạo đức, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trong thực tiễn công việc. Các nghiên cứu ở Việt Nam về đạo đức nghề nghiệp Lê Thanh Thập (2005), “Về đạo đức nghề nghiệp” [52], đã quan niệm đạo đức nghề nghiệp là một nhánh trong hệ thống đạo đức xã hội, là một loại đạo đức đã được thực tiễn hoá. Lương tâm nghề nghiệp là sự tự phán xét, tự ý thức về trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp. Nghĩa vụ đạo đức nghề nghiệp và lương tâm nghề nghiệp có quan hệ mật thiết với nhau.
Đánh mất ý thức về nghĩa vụ đạo đức là đánh mất ý thức về bản thân mình, làm mất ý nghĩa làm người cũng như giá trị động lực của lao động. Do vậy, giáo dục đạo đức nghề nghiệp chính là để hình thành nhân cách nghề nghiệp của mỗi chủ thể; hướng con người vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ trong hoạt động nghề nghiệp. Tác giả còn khẳng định rằng: Để có được thành công trong sự nghiệp, hoạt động nghề nghiệp của mỗi người trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đòi hỏi phải có những chuẩn mực đạo đức mà ta gọi là đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp là những quan điểm, quy tắc và chuẩn mực hành vi đạo đức xã hội đòi hỏi phải tuân theo trong hoạt động nghề nghiệp, có tính đặc trưng của nghề nghiệp.
Vũ Tình (2016), “Đạo đức trong chương trình đào tạo công tác xã hội với chuyên nghiệp hoá các dịch vụ công tác xã hội ở Việt Nam” [48, tr.51], tác giả đã đưa ra các yêu cầu cơ bản về phẩm chất đạo đức đối với người là công tác xã hội bao gồm: Sự thông cảm và tình yêu thương con người; niềm đam mê nghề nghiệp, sự cam kết với nghề nghiệp; trung thực; thái độ cởi mở; tính kiên trì, nhẫn nại; lòng vị tha; quan điểm cấp tiến; cương trực. Đây là những phẩm chất mang tính định hướng, thể hiện nguyên tắc đạo đức nghề trong lĩnh vực Công tác xã hội. Trên cơ sở những giá trị đạo đức mà tác giả đưa ra, chính là nền tảng để xây dựng, đề xuất những yêu cầu bắt buộc về chuẩn mực, nguyên tắc đối với nghề nghiệp Công tác xã hội. 16 Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu, nhóm tác giả Nguyễn Thu Trang, Trần Tiến Khoa, Lê Thị Thanh Xuân (2014) đã đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp đó là: Pháp luật Nhà nước và quy định ngành nghề; chuẩn mực nghề nghiệp; đạo đức cá nhân; năng lực hành nghề; kiến thức văn hoá xã hội; đạo đức công ty [60].
Những yếu tố này sẽ là nền tảng để tác giả tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp nói chung và định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên các học viện, trường đại học Công an nhân dân nói riêng. Về phương diện Tâm lý học tham vấn, một số nhà khoa học đã bàn luận về đạo đức nghề nghiệp của nhà tâm lý trong các hoạt động trợ giúp. Theo họ đạo đức nghề nghiệp là giá trị cốt lõi để định hướng hành vi cho mỗi người lao động trong tổ chức làm việc. Tác giả Bùi Thị Hồng Thái đã dựa vào 10 biểu hiện về đạo đức đối với tổ chức làm việc trong bộ Quy điều đạo đức Hoa Kỳ dành cho nhân viên công tác xã hội để xác định các các nhóm yếu tố liên quan đến đạo đức nghề nghiệp của người trợ giúp tâm lý trong tổ chức làm việc, đó là: a/ Khía cạnh giám sát và đào tạo trong tổ chức; b/ Khía cạnh đảm bảo quyền lợi cho thân chủ trong tổ chức; c/ Khía cạnh gắn bó với tổ chức của người trợ giúp [49].
Trần Thị Minh Đức (2013), Nghiên cứu thực trạng hoạt động trợ giúp tâm lý nhằm xây dựng Bộ Tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cho các nhà Tâm lý học Việt Nam [12]. Ở đề tài này, tác giả cho rằng tính liêm chính, lòng nhiệt tình và thái độ làm việc tích cực là một trong những giá trị đạo đức cốt lõi của các nhà nghiên cứu hoạt động trong lĩnh vực Tâm lý học. Trên cơ sở đó, các nhà Tâm lý học có thể tham khảo để xây dựng được bộ Quy tắc đạo đức hành nghề Tâm lý ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp đều có những điểm chung khi khẳng định: Đạo đức nghề nghiệp là những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực ứng xử trong nghề nghiệp được xác định trên cơ sở các quy định của Nhà nước, của hệ thống pháp luật có liên quan và những quy định riêng của ngành nghề đó.
Nghiên cứu có liên quan đến định hướng giá trị nghề nghiệp Nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến định hướng giá trị nghề nghiệp Trong hệ thống các công trình nghiên cứu về định hướng giá trị nói chung, có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan định hướng giá trị nghề nghiệp. Đặc biệt các công trình tập trung vào vấn đề định hướng giá trị nghề nghiệp ở thế hệ trẻ. Cũng dễ dàng lý giải khi phần lớn các nghiên cứu tập trung vào nhóm khách thể này (bao gồm: học sinh, sinh viên và những người đầu tuổi trưởng thành) khi họ quan tâm đến tương lai, nghề nghiệp của mình. Nhiều câu hỏi nghiên cứu được đặt ra: Thế hệ trẻ quan niệm như thế nào về nghề, giá trị nào có vai trò trong việc chọn nghề của họ, yếu tố nào ảnh hưởng đến định hướng giá trị nghề và mức độ thành công của việc chọn nghề, học nghề.
Đó là những vấn đề rất thú vị và có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong xã hội hiện nay. Trong nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên mẫu gồm 533 sinh viên. Kết quả cho thấy định hướng nghề của sinh viên ngành kinh tế phụ thuộc vào khả năng hiểu biết kỹ thuật (26%); khả năng quản lý (17%); khả năng tự lập (14%) của sinh viên.