phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non. - Chƣơng 2: Thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non tại Trƣờng Cao đẳng Cần Thơ. - Chƣơng 3: Đề xuất các biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non tại Trƣờng Cao đẳng Cần Thơ. 5 Luan van PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Một số nghiên cứu nước ngoài Khổng Tử (551- 479 TCN) là một trong những nhà giáo dục tiêu biểu cho nền giáo dục phong kiến Trung Hoa.
Những tƣ tƣởng giáo dục tiến bộ của Khổng Tử còn có giá trị thời đại ngày nay. Đó là: - Coi trọng việc giáo dục đạo đức trong nhân cách con ngƣời…Giáo dục lòng nhân ái và biết sống có trên dƣới, trung thực, chung thủy, có kỉ cƣơng… - Trau dồi đạo đức để ngƣời thầy luôn là tấm gƣơng sáng cho học trò noi theo. Theo Khổng Tử thì bản tính con ngƣời là thiện và giáo dục có nhiệm vụ đào tạo nên con ngƣời, đó là những ngƣời nhân nghĩa, trung chính…Lúc sinh ra mọi ngƣời đều nhƣ nhau nhƣng bằng cách tập luyện mà khác nhau. Theo ông, muốn trở thành ngƣời có đạo đức phải qua giáo dục [7, tr.
Nhƣ vậy, từ thời xa xƣa Khổng Tử đã rất xem trọng đạo đức của ngƣời thầy. Socrates ( 476 - 399 TCN) là triết gia tiên khởi và cũng là nhà giáo dục khả kính của Hy Lạp. Ông cống hiến cả cuộc đời cho lý tƣởng “thành thực” và “đức hạnh”. Ông nhận định rằng bản chất tốt đẹp của con ngƣời đƣa đến hành động chính đáng.
Tội lỗi, sai trái xuất hiện vì thiếu suy tính, kém hiểu biết [1, tr. Plato (427 - 347 TCN) là nhà giáo dục và triết gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại. Ông nhận định rằng, mọi ngƣời đều mƣu cầu hạnh phúc nhƣng họ đã không biết làm thế nào để thực hiện điều này. Theo ông, hạnh phúc là kết quả tất yếu của một tâm hồn lành mạnh.
Do đó, ông khuyên mọi ngƣời nên sống trong đức hạnh vì đức hạnh đem lại sự thảnh thơi cho tâm hồn. Vì vậy, vấn đề căn bản ở đây là sự hiểu biết, là kiến thức. Có kiến thức, hiểu đƣợc hạnh phúc và hiểu đƣợc đức hạnh tức là có thể mƣu cầu đƣợc hạnh phúc [1, tr. 6 Luan van John Locke (1632-1704) là nhà giáo dục, học giả ngƣời Anh.
Ông cho rằng giáo dục phải đề cập đến hai phƣơng diện là nhân cách và kiến thức. Do đó, để đạt đƣợc kết quả tốt đẹp nhất, giáo dục phải cung cấp cho học sinh những tƣ tƣởng và nhân cách thích đáng, huấn luyện đứa trẻ bằng cách quan sát và chia sẻ thói quen tốt, hành động cao đẹp để trau dồi kiến thức; chính những thói quen, hành động này là những khuôn mẫu của một con ngƣời hiểu biết, có lý trí. Trau dồi kiến thức, thực hiện thói quen tốt, hành động cao đẹp qua việc nuôi dƣỡng, hƣớng dẫn, học tập với một chƣơng trình giáo dục sáng tỏ, thiết thực. Đứa trẻ khởi sự học tập qua những hành động…[1, tr.
Immanuel Kant (1724 -1804) là triết gia nổi tiếng ngƣời Đức. Ông nhận định rằng con ngƣời chỉ có thể trƣởng thành qua giáo dục, từ chỗ vô tri trở thành tri thức. Giáo dục phải uốn nắn và rèn luyện để con ngƣời trở nên có văn hóa, đức hạnh và nhân hậu tạo dựng hạnh phúc cho nhân loại. Ông nhấn mạnh đến việc giới hạn cảm xúc nhất thời của trẻ em bằng cách giảng dạy đạo đức với những câu cách ngôn xử thế.
Đứa trẻ phải học và tự kiểm điểm để nhận biết hai điều quan trọng tự do và giới hạn [1, tr. Makarenkô (1888-1939) là nhà giáo dục Xô Viết lỗi lạc. Đối với các nhà giáo dục, ông yêu cầu rất cao, phải có những phẩm chất, năng lực làm công tác giáo dục. Ông đòi hỏi các nhà giáo dục, giáo viên phải yêu nghề, yêu trẻ, sống say sƣa, vui vẻ, phải mẫu mực trong mọi lời nói, ăn mặc, cử chỉ, có lý tƣởng, có hoài bão ƣớc mơ… Để thực sự là một nhà giáo dục, ông yêu cầu phải rèn luyện “Điều quan trọng là phải làm việc một cách có ý thức và tích cực, coi trọng nghề nghiệp”.
Phải hết sức sáng tạo, phải nhạy cảm sƣ phạm… [7, tr. Nhìn chung, những tƣ tƣởng giáo dục có từ ngàn xƣa đã giúp cho sinh viên hiểu rõ hơn về vai trò chủ đạo của giáo dục đạo đức trong sự hình thành và phát triển nhân cách cho ngƣời học. Yêu cầu đào tạo ngƣời thầy phải đủ kiến thức chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội.2 Một số nghiên cứu ở trong nước Dân tộc Việt Nam, một dân tộc có truyền thống “Tôn sƣ trọng đạo”. Từ thời phong kiến, ngƣời thầy đã có vị trí rất cao trong xã hội.
Trong bậc thang giá trị xét 7 Luan van theo cấu trúc “Quân - Sƣ - Phụ”, nhà giáo đƣợc xếp dƣới vua nhƣng trên cha mẹ. Ca dao xƣa có câu: “Muốn sang thì bắc cầu Kiều Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy” Đƣợc coi trọng nhƣ vậy bởi ngƣời thầy luôn tƣợng trƣng cho sự chuẩn mực. Ngƣời thầy phải là tấm gƣơng mẫu mực cho học trò noi theo. Sự gƣơng mẫu của ngƣời thầy không phải chỉ giới hạn ở phạm vi trƣờng học mà còn ở mọi nơi, mọi lúc, trong gia đình và ngoài xã hội.
Điều đó đòi hỏi ngƣời thầy giáo phải giữ đƣợc những phẩm chất tốt đẹp của ngƣời thầy và phải đáp ứng nhu cầu ngày cao về tri thức, về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sƣ phạm. Ngƣời thầy còn có sứ mệnh cao quý là truyền đạo lí cho các thế hệ học trò của mình, giúp họ trở thành những con ngƣời có phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn vững vàng. Đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói: “Nghề dạy học là nghề cao quý bậc nhất trong các nghề cao quý…là nghề sáng tạo bậc nhất vì nó sáng tạo những con ngƣời sáng tạo” [10, tr. Đó là những ngƣời đầy tâm huyết, trí tuệ, không quản khó khăn, gian khổ, cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp “trồng ngƣời”.
Tôn vinh ngƣời thầy đã trở thành đạo lí, thành tình cảm tự nhiên của mỗi ngƣời chúng ta. Lịch sử giáo dục vẫn còn lƣu lại tên tuổi những tấm gƣơng nhà giáo ngời sáng cả cốt cách và tâm hồn. Những con ngƣời đó đã tạo nên phẩm chất đạo đức cao đẹp của ngƣời thầy trong truyền thống. Chu Văn An (1292-1370) là một danh sĩ lỗi lạc, ông mở trƣờng dạy học tại quê nhà.
Ông nổi tiếng về tài giáo dục, môn đệ khắp nơi tìm đến thụ giáo và nhiều ngƣời đã thi đậu, làm quan lớn trong triều. Ông mất năm 1370 và đƣợc thờ trong Văn Miếu vì sự nghiệp giáo dục cũng nhƣ tài năng và đức độ [1, tr 416]. Đoàn Thị Điểm (1705-1748) là một trong rất ít nữ danh mở trƣờng dạy học, khi dạy học, bà là cô gái độc thân, còn nhỏ tuổi nhƣng đƣợc mọi ngƣời kính trọng vì tài cũng nhƣ đức [1, tr. 8 Luan van Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), trên 30 năm hành nghề mô phạm, ông đã đem đạo thánh hiền, những điều nhân nghĩa ra truyền thụ cho các môn đệ [1, tr.
Hồ Chí Minh (1890-1969) là một nhà cách mạng kiệt xuất, một nhà giáo tiêu biểu. Ngƣời không những dạy cho học trò kiến thức văn hóa mà còn gieo vào tâm trí ngƣời học về nguồn cội, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hƣơng đất nƣớc, yêu đồng bào… Ngƣời dạy học trò đạo làm ngƣời, dạy cách sống, cách cƣ xử với mọi ngƣời. Trong bài nói chuyện tại trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội, Ngƣời nêu mục tiêu giáo dục phải đạt đƣợc là đào tạo con ngƣời phát triển toàn diện cả về tài và đức: “Dạy cũng nhƣ học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng.
Đó là cái gốc, rất là quan trọng” [4, tr. Hồ Chí Minh khẳng định sự phát triển của con ngƣời là một quá trình. Con ngƣời không phải sinh ra đã đƣợc hình thành nhân cách, “hiền, dữ” không phải có ngay trong mỗi con ngƣời. Vì vậy, sự hoàn thiện con ngƣời là kết quả của cả một quá trình rèn luyện bền bỉ, gian khó [2, tr.
Đạo đức nghề nghiệp, giáo dục đạo đức nghề nghiệp luôn là vấn đề đƣợc nhiều nhà giáo dục trong và ngoài nƣớc quan tâm. Có một số công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho sinh viên nhƣ: Hai tác giả Nguyễn Kế Hào và Nguyễn Quang Uẩn trong công trình nghiên cứu “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sƣ phạm”, tác giả Nguyễn Quang Uẩn đã dành một chƣơng để nói về “Tâm lý học nhân cách ngƣời thầy giáo” [8]. Trong đó, đã đi sâu phân tích đặc điểm của lao động sƣ phạm trên cơ sở trên đã chỉ ra các phẩm chất của ngƣời thầy giáo, đó là: - Thế giới quan khoa học; - Lí tƣởng nghề nghiệp; - Lòng tin và yêu mến học sinh, yêu nghề; - Đạo đức - lối sống. Nhƣ vậy, ngƣời thầy tác động đến học sinh không những bằng hành động trực tiếp của mình mà còn bằng sự mẫu mực, bằng thái độ và hành vi của chính 9 Luan van mình đối với thế giới xung quanh.
Để làm đƣợc điều đó, ngƣời thầy phải biết lấy các quy luật khách quan làm chuẩn mực cho mọi tác động sƣ phạm của mình, mặt khác phải có những phẩm chất đạo đức và phẩm chất ý chí cần thiết [8, tr. Nhiệm vụ học tập, nghiên cứu của sinh viên sƣ phạm rất nặng nề, đòi hỏi phải có tinh thần say sƣa, tự nguyện, tự giác với ý chí quyết tâm cao. Muốn đạt kết quả học tập tốt, đó không phải là điều đơn giản, không phải ngẫu nhiên mà có. Vì thế, khi còn ở nhà trƣờng, sinh viên cần tận dụng cơ hội để học tập, tu dƣỡng, lĩnh hội toàn bộ chƣơng trình học về chuyên môn, nghiệp vụ.
Từ đó, hình thành và phát triển nhân cách nhà giáo. Đồng thời đó là cơ sở cho sự phát triển trình độ nghề sau này. “Học chữ” - “Học làm thầy” - “Học làm ngƣời”, đó là ba nhiệm vụ cốt lõi của mỗi sinh viên. Sự kết hợp nhuần nhuyễn, đan xen nhau giữa ba nhiệm vụ ấy sẽ giúp cho sinh viên có đƣợc sự phát triển hài hòa, cân đối trong quá trình phấn đấu để trở thành ngƣời giáo viên toàn diện, mẫu mực [10, tr.