CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Lý luận cơ bản về thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính 1. Khái niệm cơ bản về thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính Theo chuẩn mực kiểm toán VSA 520 về thủ tục phân tích, “ Thủ tục phân tích được hiểu là việc đánh giá thông tin tài chính qua việc phân tích các mối quan hệ hợp lý giữa dữ liệu tài chính và phi tài chính ” Hay hiểu theo một cách khác, “Thủ tục phân tích hay Quy trình phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn với giá trị đã dự kiến”. Thủ tục phân tích là một công cụ hữu dụng để đánh giá và đưa ra ý kiến khi BCTC có chứa những khoản mục bất thường.
Thủ tục phân tích có thể được tiến hành từ việc so sánh một cách cơ bản các khỏan mục đến phân tích phức tạp để tìm ra những biến động được cho là trọng yếu. Thủ tục phân tích có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm toán BCTC. Trong đó, giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán KTV vận dụng thủ tục phân tích như các thủ tục đánh giá rủi ro nhằm xác định, khoanh vùng các rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC. Giai đoạn thực hiện kiểm toán, KTV sử dụng thủ tục phân tích như một công cụ để xử lý các rủi ro đã được xác định trong giai đoạn lập kế hoạch.
Cuối cùng, giai đoạn kết thúc kiểm toán, KTV tiếp tục sử dụng thủ tục này để đánh giá biến động các khoản mục, các số liệu sau khi được điều chỉnh trên BCTC có nhất quán với hiểu biết của KTV hay không. Từ đó đưa ra kết luận cuối cùng về tính trung thực, hợp lý của BCTC. Có thể thấy thủ tục phân tích được sử dụng xuyên suốt quá trình kiểm toán BCTC và đóng vai trò quan trọng trong việc giúp KTV định hướng và xử lý các biến động bất thường trong các khoản mục và số liệu của BCTC. Sinh viên: Hoàng Phương Anh Lớp: CQ54/22.04 Học viện tài chính 4 Luận văn tốt nghiệp 1.
Phân loại các thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC Theo điều 7 – Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 về thủ tục phân tích “Trong quá trình thực hiện thủ tục phân tích, KTV được phép sử dụng nhiều phương pháp khác nhau từ việc so sánh giản đơn đến những phân tích phức tạp đòi hỏi phải sử dụng những kỹ thuật thống kê tiên tiến”. Do vậy, dựa vào các phương pháp thu thập bằng chứng đã phân loại các thủ tục phân tích thành: Phân tích xu hướng hay còn gọi là phân tích ngang được sử dụng trong phân tích BCTC để so sánh dữ liệu sẵn có, ví dụ như tỷ lệ hoặc chỉ tiêu tài chính qua một vài kỳ kế toán. Qua đó KTV thấy và đánh giá được những biến động bất thường của các chỉ tiêu có vấn đề trên BCTC và có thể đưa ra những dự báo trong tương lai. Có thể chia phân tích xu hướng thành hai dạng là phân tích xu hướng giản đơn và phân tích xu hướng hồi quy: Phân tích xu hướng giản đơn là xác định con số ước tính dựa trên số dư cuối kỳ trước.
Phân tích xu hướng hồi quy là sử dụng phương pháp toán học trong phân tích tài chính để thể hiện và đánh giá mối quan hệ tương quan giữa các chỉ tiêu kinh tế. Khi đó, KTV sẽ xây dựng một mô hình hồi quy cho tài khoản cần kiểm tra dựa trên bản chất của mỗi tài khoản. Phương pháp phân tích này cho kết quả đáng tin cậy hơn phương pháp phân tích xu hướng giản đơn, nhưng đồng thời nó cũng phức tạp hơn và đòi hỏi kinh nghiệm cũng như trình độ cao của KTV. Phân tích tỷ suất là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương quan của chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên BCTC.
Thông thường các KTV sẽ kết hợp cả phân tích dọc và phân tích ngang để xác định biến động của các tỷ suất giữa các thời kỳ. Nếu xuất hiện các biến động đáng kể giữa tỷ suất các kỳ, KTV sẽ phải xác định nguyên nhân của các biến động đó. Các tỷ suất KTV áp dụng trong thủ tục phân tích bao gồm: Nhóm tỷ suất về khả năng thanh toán : Hệ số khả năng thanh toán; Hệ số khả năng thanh toán nhanh; Số ngày quay vòng nợ phải thu; Hệ số khả năng thanh toán tổng quát. Các chỉ tiêu trên giúp KTV có thể đánh giá được khả năng thanh toán nợ trong ngắn hạn, dài hạn cũng như khả năng thanh toán nhanh trong một năm hoặc Sinh viên: Hoàng Phương Anh Lớp: CQ54/22.04 Học viện tài chính 5 Luận văn tốt nghiệp một chu kỳ kinh doanh của DN.
Đồng thời nó cũng giúp KTV đánh giá chính xác tình hình an ninh tài chính của khách hàng và xác định được những rủi ro tiềm tàng. Nhóm tỷ suất về cấu trúc tài chính: Tỷ suất tài trợ; Tỷ suất nợ; Tỷ suất đầu tư vào TSCĐ; Tỷ suất tự tài trợ. Các chỉ tiêu giúp KTV đánh giá được khả năng hoạt động liên tục thông qua khả năng đảm bảo và độc lập tài chính của DN. Thêm vào đó, nó còn giúp KTV đánh giá được nguồn vốn đầu tư vào TSCĐ và đầu tư tài chính dài hạn có phù hợp và hiệu quả hay không.
Nhóm tỷ suất về khả năng sinh lời: Tỷ suất lợi nhuận thuần trên vốn; Tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu. Các tỷ suất này phản ánh khả năng hoạt động kinh doanh của khách hàng, khả năng của khách hàng trong việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào sản xuất. Phân tích tính hợp lý là kĩ thuật so sánh giữa số liệu thực tế của khách hàng với các dữ liệu có liên quan, từ đó xác định chênh lệch, tìm hiểu nguyên nhân các chênh lệch đó. Từ cơ sở đó, KTV có thể phát hiện ra những sai sót trong BCTC hoặc các biến động lớn trong tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.
Các so sánh chủ yếu bao gồm: Một là so sánh số liệu thực tế với số liệu dự toán do khách hàng xác định. Giúp KTV đánh giá được tính khả thi của dự toán KH, từ đó xác định được khả năng KH có thể sửa đổi thông tin tài chính để phù hợp với số liệu dự toán. Hai là so sánh số liệu thực tế với số liệu dự kiến của KTV. Do số liệu ước tính là số liệu độc lập mà KTV tự tính toán nên có độ tin cậy cao, việc so sánh với số liệu thực tế của khách hàng sẽ giúp KTV xác định được những chênh lệch và từ đó khoanh vùng những rủi ro có thể xảy ra, làm căn cứ để tiến hành các thủ tục kiểm toán chi tiết khác.
Ba là so sánh dữ liệu thực tế của khách hàng với dữ kiện chung của ngành, giúp KTV thu thập được những hiểu biết thực tế về hoạt động kinh doanh của KH. Ngoài ra nếu có sự khác biệt lớn giữa dữ liệu của KH với dữ kiện chung của ngành, KTV có thể cho đây là một căn cứ để mở rộng thực hiện các thủ tục kiểm toán với vùng rủi ro này. Sinh viên: Hoàng Phương Anh Lớp: CQ54/22.04 Học viện tài chính 6 Luận văn tốt nghiệp Bốn là so sánh số liệu thực tế của các chỉ tiêu tài chính và các chỉ tiêu phi tài chính, thông qua đó KTV có thể phát hiện được những sự kiện bất hợp lý và phát hiện được sai sót. Dựa vào tính chất, quy mô cũng như đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà KTV cần có hiểu biết sâu rộng và vận dụng một cách linh hoạt các thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC để thu thập bằng chứng kiểm toán tại công ty khách hàng.
Trình tự vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC Thủ tục là những công việc cụ thể được triển khai theo một trật tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức. Trình tự vận dụng thủ tục phân tích bao gồm các bước: Bước 1: Lựa chọn loại hình phân tích phù hợp. Việc lựa chọn loại hình phân tích xu hướng, phân tích tỷ suất hay phân tích hợp lý sẽ phụ thuộc vào từng giai đoạn kiểm toán mà KTV thực hiện kiểm tra. Ví dụ trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV sẽ tập trung áp dụng phân tích xu hướng để có cái nhìn cơ bản về tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Sau đó đến giai đoạn thực hiện kiểm toán, KTV sử dụng thủ tục phân tích tỷ suất và phân tích tính hợp lý để phân tích sâu hơn các khoản mục mà KTV cho là trọng yếu có chứa đựng rủi ro. Qua đó sẽ nâng cao hiệu suất của thủ tục phân tích cũng như giảm thiểu thời gian thực hiện các thủ tục kiểm toán không cần thiết. Bước 2: Thu thập các dữ liệu tài chính và nghiệp vụ. Những thông tin tài chính và phi tài chính mà KTV thu thập được là cơ sở để KTV lựa chọn mô hình cũng như xác nhận được tính chính xác của số liệu.
Do đó, KTV phải đảm bảo việc thu thập các dữ liệu tài chính và nghiệp vụ có hiệu lực, đảm bảo tính chính xác và độc lập phục vụ cho việc phân tích của mình. Bước 3: Xây dựng mô hình để dự đoán số liệu tài chính hoặc những xu hướng hay tỷ suất về số liệu tài chính và số liệu hoạt động. Trong lúc này, KTV phải xác định được biến tài chính, biến hoạt động và các mối quan hệ giữa các biến này. Từ đó xây dựng nên mô hình các biến phù hợp cũng như thu thập được số liệu về các biến đã xác định từ thực tế của đơn vị.
Sinh viên: Hoàng Phương Anh Lớp: CQ54/22.04 Học viện tài chính 7 Luận văn tốt nghiệp Bước 4: Dự đoán và so sánh dự đoán của KTV với số liệu của đơn vị được kiểm toán. Trong trường hợp xuất hiện sự chênh lệch giữa số liệu thực tế và số liệu dự toán, KTV phải tìm ra nguyên nhân chênh lệch xuất phát từ sai sót trong mô hình của KTV hay từ tài khoản của KH. Từ đó, KTV tiếp tục thu thập thêm hiểu biết về tình hình tài chính và hoạt động của KH để có thể giải thích được nguyên nhân chênh lệch.