phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương: hương 1:Tổng quan về rủi ro, đ nh gi rủi ro và đối phó rủi ro trong kiểm to n BCTC hương 2: Thực trạng đ nh gi rủi ro và đối phó rủi ro tại c c công ty kiểm to n độc lập nhỏ và vừa tại iệt Nam hương 3: Giải ph p hoàn thiện quy tr nh đ nh gi và đối phó rủi ro trong kiểm to n o c o tài ch nh đối với các Công ty kiểm to n độc lập nhỏ và vừa tại Việt Nam. 123doc 6 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ Đ NH GI RỦI RO VÀ ĐỐI PHÓ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BCTC 1.1 Tổng quan về rủi ro, rủi ro trong kiểm toán 1.1 Khái niệm về rủi ro Rủi ro, theo một cách chung nhất, được hiểu đó là những sự kiện xảy ra mà n m ngoài ý muốn và thường mang lại kết quả không có lợi cho chủ thể. Có nhiều c ch định nghĩa kh c nhau về rủi ro. Trong từ điển Oxford của Đại học Cambrige nh định nghĩa Rủi ro là một tình huống liên quan đến việc tiếp cận sự nguy hiểm.
Một số từ điển khác cho r ng Rủi ro là khả năng hoặc sự đe ọa gây ra thiệt hại, tổn thương, tr ch nhiệm, mất mát, hoặc bất kỳ phát sinh tiêu cực khác xảy ra do các l hổng bên ngoài hoặc nội bộ, và có thể tr nh được thông qua c c hành động ưu tiên. Trong lĩnh vực đầu tư, người ta cho r ng rủi ro là khả năng mà việc thu hồi trở lại một khoản đầu tư có giá trị thấp hơn so với mức độ kỳ vọng. Trong sản xuất kinh doanh, rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, t c động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Như vậy, ta có thể nhận định r ng rủi ro là một hiện tượng luôn luôn xuất hiện trong trong cuộc sống, trong tất c c c c lĩnh vực, các ngành nghề và trong mọi hoàn cảnh.
Tất cả các hành động, cách ứng xử của con người đối với một sự việc luôn ẩn chứa những nguy cơ ất lợi về phía bản thân họ. Chính vì những yếu tố không chắc chắn trong tương lai, và những hậu quả mà của những sự việc này có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng. Do vậy, nghiên cứu về rủi ro nh m quản trị ch ng luôn được xã hội quan tâm tìm hiểu.2 Định nghĩa rủi ro trong kiểm toán Lĩnh vực kiểm toán là một lĩnh vực luôn đối mặt với những rủi ro. Rủi ro kiểm toán là hậu quả của nhiểu loại rủi ro, do vậy, cần tìm hiểu những nhân tố cấu thành chúng nh m giảm thiểu rủi ro cho nghề nghiệp c ng như n ng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán.
Rủi ro kiểm toán bị t c động bởi cả những nhân tố nội tại bên trong doanh nghiệp kiểm toán, lẫn các nhân tố bên ngoài, phát sinh do những sự kiện mà doanh nghiệp kiểm toán không thể lường thể lường trước được. KTV và công ty kiểm toán không thể kiểm so t được rủi ro kiểm toán, mặc dù họ có thể có các thủ tục và biện ph p để xem x t trước khi chấp nhận hay từ chối một khách hàng. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 200- Mục tiêu tổng thể của KTV độc lập và thực hiện cuộc kiểm toán theo CMKT quốc tế có đưa ra định nghĩa về rủi ro kiểm toán như sau: Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV và công ty kiểm to n đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn có những sai phạm trọng yếu. Rủi ro kiểm toán là hệ quả của rủi ro có sai phạm trọng yếu và rủi ro phát hiện.
Chuẩn mực c ng x c định r ng rủi ro kiểm to n không ao gồm rủi ro mà KTV có thể đưa ra ý kiến là BCTC có sai sót trọng yếu nhưng thực tế BCTC không có sai sót như vậy. Rủi ro này thường không nghiêm trọng. Ngoài ra, rủi ro kiểm to n là một thuật ngữ chuyên môn liên quan đến quá trình kiểm toán, không bao hàm rủi ro mà KTV gặp phải trong kinh oanh như ị thua kiện, làm mất uy tín, hoặc các sự kiện khác phát sinh trong mối liên hệ với các cuộc kiểm toán BCTC. Như vậy, nguyên nhân chính dẫn tới rủi ro kiểm toán là KTV đưa ra nhận xét không đ ng về các thông tin trên BCTC của khách hàng, ví dụ, KTV có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần về một BCTC mà không biết r ng BCTC này chứa đựng những sai phạm trọng yếu.
123doc 8 ng với quan điểm này, SAS 107 do Hội KTV hành nghề M (AICPA) có hiệu lực từ ngày 15/12/2006 c ng chỉ ra r ng Rủi ro kiểm toán là rủi ro mà KTV có thể vô tình thất bại trong việc đưa ra ý kiến phù hợp về một BCTC có sai phạm trọng yếu. Các sai phạm này có thể là kết quả của sai sót và gian lận trong công tác kế to n như việc bỏ sót các nghiệp vụ, trình bày phân loại không phù hợp, thuyết minh không phù hợp với nguyên tắc kế toán, hay bỏ sót các thông tin cần công bố, sai sót trong c c ước tính kế toán,v. Việc đ nh gi một sai phạm là trọng yếu dẫn đến ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng, phải bao gồm cả việc xem xét những đặc tính của người sử dụng thông tin, chẳng hạn như: hiểu biết về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được kiểm toán, hiểu biết về BCTC, ra quyết định dựa trên cơ sở các thông tin trong BCTC. Để hoạt động kiểm to n được thực hiện một cách hiệu quả, phù hợp với tình hình cụ thể từng quốc gia, m i quốc gia đều xây dựng hệ thống chuẩn mực áp dụng tại quốc gia đó.
Ở Việt Nam, hoạt động kiểm to n ra đời muộn hơn so với thế giới, việc ban hành các chuẩn mực kiểm to n căn ản được dựa trên nền tảng của chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400- Đ nh gi rủi ro và kiểm soát nội bộ, an hành năm 2001 quy định về đ nh gi rủi ro định nghĩa Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV và công ty kiểm to n đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện Hiện nay, tuy chuẩn mực này đã đã được thay thể bởi chuẩn mực VSA 200 và s có hiệu lực từ 01/01/2014 nhưng nh n chung định nghĩa này không có sự khác biệt về mặt bản chất so với định nghĩa về rủi ro kiểm to n trong S 200 như sau: Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV đưa ra ý kiến kiểm toán không phù hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn chứa đựng sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán là hệ quả của rủi ro có sai sót trọng yếu (gồm rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát) và rủi ro phát hiện.
123doc 9 Trong m i cuộc kiểm toán, rủi ro kiểm toán là điều luôn có khả năng xảy ra, do việc đ nh gi rủi ro kiểm toán bị ảnh hưởng bởi quy mô và mức độ phức tạp của đơn vị được kiểm to n c ng như kinh nghiệm của KTV đối với hiểu biết về đơn vị được kiểm toán c ng như môi trường của nó. Khi việc lập kế hoạch không tốt và thiếu thận trọng khi thực hiện thì rủi ro kiểm toán s càng tăng, và ngay cả khi cuộc kiểm to n được lập kế hoạch chu đ o và thực hiện một cách thận trọng thì rủi ro vẫn không biến mất hoàn toàn. KTV có thể kiểm soát rủi ro kiểm toán thông qua việc thiết kế và thực hiện các thử nghiệm kiểm toán.3 Các bộ phận cấu thành rủi ro kiểm toán Năm 1983, ội KTV hành nghề M ( I P đưa ra mô hình rủi ro kiểm to n thông qua việc ban hành chuẩn mực kiểm toán (SAS) số 47- Rủi ro kiểm toán và mức trọng yếu trong thực hiện kiểm toán trong khuôn khổ ác chuẩn mực kiểm toán chung được chấp nhận ở M (US GAAS) và yêu cầu KTV áp dụng từ năm 1984. Trước khi S S 47 ra đời, nhiều KTV đã sử dụng một vài nguyên tắc của mô hình trong thực hành, mặc ch ng không được ban hành một c ch rõ ràng như trong GAAS.
Mô hình này yêu cầu KTV phải sử dụng những x t đo n trong việc đ nh gi rủi ro và sau đó quyết định những thủ tục cần thực hiện. Mô h nh c ng yêu cầu KTV phải có một sự hiểu biết về kiểm soát nội bộ của đơn vị, và kiểm tra tính hữu hiệu của các kiểm soát nếu như KTV kỳ vọng dựa vào chúng trong quá trình xem xét bản chất, thời gian và phạm vi các thử nghiệm chi tiết được tiến hành. Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 200, rủi ro kiểm to n được cấu thành từ 3 bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện.1 123doc 10 Rủi ro tiềm tàng là khả năng cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số ư tài khoản hay những thông tin thuyết minh có thể chứa đựng sai sót trọng yếu, khi xét riêng r hay tổng hợp lại, trước khi xem x t đến bất kỳ kiểm soát nào có liên quan. Rủi ro tiềm tàng chủ yếu đến từ các yếu tố nội tại của doanh nghiệp, chẳng hạn như việc tính toán phức tạp có thể sai sót nhiều hơn c c t nh to n đơn giản, khoản mục tiền thường gặp rủi ro mất cắp hơn c c khoản mục khác, những tài khoản bao gồm các giá trị phát sinh từ c c ước tính kế toán s có rủi ro sai phạm cao hơn c c nghiệp vụ thông thường Tuy nhiên, c c nh n tố ên ngoài đôi khi c ng ảnh hưởng đến rủi ro tiềm tàng, ví dụ như sự phát triển về công nghệ có thể dẫn đến việc l i thời của một số sản phẩm cụ thể, làm cho hàng tồn kho có khả năng ghi nhận khống trên BCTC của doanh nghiệp.