Phần mở đầu: Giới thiệu chung về đề tài, trong đó đề cập đến lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng, phạm vi, và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài. Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu trước nhằm tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới, cũng nhƣ tại Việt Nam liên quan đến áp lực về ngân sách thời gian kiểm toán và phản ứng của KTV khi đứng trƣớc áp lực về thời gian. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết về áp lực thời gian kiểm toán và cách thức phản ứng của KTV trƣớc áp lực này: nhằm làm sáng tỏ các khái niệm liên quan cũng nhƣ những lý thuyết nền tảng giải thích các mô hình sử dụng trong bài. Chƣơng 3: Phương pháp nghiên cứu đề cập đến các phƣơng pháp sử dụng để nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa áp lực thời gian kiểm toán và cách thức phản ứng của KTV tại các công ty kiểm toán Việt Nam.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu trình bày kết quả từ việc phân tích số liệu. Chƣơng 5: Kết luận, kiến nghị và những hạn chế của đề tài nhằm trình bày các phát hiện mới, những giới hạn của luận văn và đề xuất các hƣớng nghiên cứu tiếp theo trong tƣơng lai. 123doc 5 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC VỀ PHẢN ỨNG CỦA KIỂM TOÁN VIÊN TRƢỚC ÁP LỰC THỜI GIAN.
Các nghiên cứu trên thế giới: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế trên toàn thế giới, hoạt động kiểm toán độc lập cũng không ngừng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tƣ, ngân hàng và các bên liên quan là nâng cao độ tin cậy thông tin. Các công ty kiểm toán độc lập đƣợc xem là một bên thứ ba với vai trò cung cấp một sự đảm bảo trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính dựa vào sự độc lập của mình đối với công ty đƣợc kiểm toán, vì vậy hoạt động của các công ty kiểm toán ngày càng đƣợc quan tâm đáng kể. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về chất lƣợng hoạt động kiểm toán độc lập nói chung, cũng nhƣ xem xét mối quan hệ giữa áp lực thời gian kiểm toán và các cách phản ứng của KTV trƣớc áp lực về thời gian này nói riêng. Hầu hết các nghiên cứu này đều cho thấy, có tồn tại một mối quan hệ giữa áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng không đúng của KTV làm ảnh hƣởng trực tiếp hay gián tiếp đến chất lƣợng của hoạt động kiểm toán ở các mức độ khác nhau.
Các dòng nghiên cứu tiêu biểu cho chủ đề này bao gồm: 1. Nghiên cứu cảm nhận về áp lực thời gian của KTV và phản ứng của KTV. Pierce (1996), khảo sát 3 trong số 6 công ty kiểm toán thuộc Big 6 ở Ireland và đƣa ra kết luận rằng có một mối quan hệ chặt chẽ giữa ngân sách thời gian để hoàn thành công việc với phản ứng của KTV. Theo đó, nếu KTV không đủ thời gian hoàn thành, phản ứng của KTV sẽ là hoặc bỏ bớt các thủ tục làm giảm chất lƣợng hoạt động kiểm toán hoặc sử dụng thêm thời gian của cá nhân ngoài thời gian kiểm toán đã đƣợc phân công để hoàn thành nhiệm vụ của mình mà không báo cáo đầy đủ thời gian làm thêm giờ này.
Có đến 48% KTV đƣợc 123doc 6 khảo sát tại Ireland cảm thấy rằng quỹ thời gian kiểm toán của họ quá ít và trong thực tế thì họ không thể nào hoàn thành nhiệm vụ trong quỹ thời gian đƣợc phân công này. Ngoài ra, đa phần các KTV thừa nhận rằng họ đã thực hiện các hành vi không đúng chức năng sau ở mức độ ít nhất là “thỉnh thoảng”, cụ thể có khoảng 28% các trƣởng nhóm kiểm toán thực hiện hành vi bỏ qua một số bƣớc kiểm toán trong cuộc kiểm toán, 37% chấp nhận các giải thích không thuyết phục của khách hàng, 41% kiểm tra một cách qua loa các chứng từ của khách hàng, 29% không nghiên cứu kĩ càng các nguyên tắc kế toán, 33% giảm khối lƣợng công việc trong một bƣớc kiểm toán ở dƣới mức độ hợp lý, và khoảng 55% ngƣời trả lời thừa nhận rằng họ báo cáo thời gian làm việc thực tế của mình không đầy đủ. Nghiên cứu của Coram et al., (2003) khảo sát nhận thức của KTV về áp lực thời gian kiểm toán tại Australia và phản ứng KTV trƣớc áp lực này nhằm xem xét liệu các KTV có thực hiện những hành vi làm giảm chất lƣợng hoạt động kiểm toán hay không, lý do KTV thực hiện hành vi này và những hành vi nào là phổ biến nhất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lƣợng KTV ở Australia chịu áp lực về ngân sách thời gian kiểm toán là khá lớn, trong đó, hơn 50% các KTV đƣợc khảo sát nhận định rằng họ đã thực hiện một số hành động làm giảm chất lƣợng kiểm toán ở mức độ “thỉnh thoảng” bởi vì họ đánh giá rằng vấn đề kiểm toán đó có rủi ro không trọng yếu, và có đến 63% các KTV tham gia khảo sát tại Australia sử dụng một số hành vi để gia tăng tốc độ kiểm tra nhƣ loại bỏ một số chỉ tiêu khó ra khỏi mẫu kiểm toán, không kiểm tra tất cả những khoản mục trong mẫu, chấp nhận những bằng chứng kiểm toán không thuyết phục của khách hàng, cũng ở mức độ “thỉnh thoảng”.
Timothy Kelley (1999) nghiên cứu về các loại áp lực mà KTV phải chịu: áp lực về thời gian kiểm toán, áp lực về thời hạn phát hành báo cáo kiểm toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trƣởng nhóm kiểm toán chịu áp lực về thời hạn phát hành báo cáo kiểm toán thƣờng xuyên hơn áp lực về thời gian kiểm toán. Trong khi đó, các trợ lý kiểm toán lại cho biết rằng họ chịu hai loại áp lực thời gian này là ngang nhau. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy áp lực về thời gian kiểm toán có ảnh hƣởng 123doc 7 đến chất lƣợng kiểm toán, gia tăng khả năng không báo cáo đầy đủ thời gian làm việc thực tế của KTV.
Liyanarachchi (2007) đã kiểm định mối quan hệ giữa áp lực về thời gian kiểm toán đến các hành vi làm giảm chất lƣợng hoạt động kiểm toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc chịu áp lực thời gian sẽ làm giảm chất lƣợng kiểm toán do việc cắt giảm các bƣớc trong quy trình kiểm toán và chấp nhận các giải thích chƣa đƣợc thuyết phục của khách hàng tại các công ty kiểm toán New Zealand. Bên cạnh đó, năm 2008, Gregory A. McNamara (2008) tiếp tục đƣa ra mô hình nghiên cứu về áp lực thời gian và những phản ứng không đúng chức năng của KTV trong mô hình đƣợc gọi tên là “căng thẳng nghề nghiệp”.
Trong nghiên cứu này, tác giả chứng minh đƣợc rằng áp lực thời gian là một trong những nhân tố dẫn đến hành vi làm giảm chất lƣợng kiểm toán và hành vi báo cáo không đầy đủ thời gian làm việc thực tế của KTV. Theo đó, loại KTV (KTV đƣợc chia thành 2 loại: KTV thuộc Big 4 và không thuộc Big 4), cảm nhận của KTV về mức độ ảnh hƣởng của phí kiểm toán đến chƣơng trình kiểm toán, quỹ thời gian thực tế kiểm toán năm trƣớc, cũng nhƣ mức độ trực tiếp tham gia của KTV trong việc thiết lập quỹ thời gian kiểm toán là những nhân tố ảnh hƣởng đến áp lực thời gian của KTV. Tại Thụy Điển, nghiên cứu gần đây của Tobias Svanström (2015) thông qua khảo sát các KTV tại các công kiểm toán nhỏ. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tác động ngƣợc chiều về áp lực thời gian kiểm toán đến chất lƣợng kiểm toán (do các phản ứng không đúng chức năng của KTV).
Chẳng hạn nhƣ: kiểm tra hời hợt các chứng từ, bỏ qua một số bƣớc kiểm toán trong chƣơng trình kiểm toán, chấp nhận những giải thích không thuyết phục của khách hàng hay đặt một sự tin tƣởng nhiều hơn vào khách hàng. Cụ thể là có đến 50% các KTV ít nhất một vài lần thực hiện các hành vi này, trong đó, việc chấp nhận những giải thích không thuyết phục của khách hàng đƣợc các KTV áp dụng nhiều hơn so với các hành vi khác, chiếm khoảng 20%. 123doc 8 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa áp lực về quỹ thời gian kiểm toán với phản ứng của KTV trƣớc áp lực này không chỉ đƣợc thực hiện ở các nƣớc phát triển mà còn tiến hành tại các quốc gia đang phát triển. Các nghiên cứu tiêu biểu có thể kể ra nhƣ: Teerooven Soobaroyen & Chelven Chengabroyan (2006) thực hiện nghiên cứu tại Cộng hòa Mauritius, thông qua kiểm tra sự tồn tại và những ảnh hƣởng của áp lực về thời gian kiểm toán đến hành vi không đúng chức năng của KTV (nhƣ giảm các bƣớc kiểm toán trong quá trình kiểm toán), cũng nhƣ việc KTV phải làm thêm ngoài thời gian kiểm toán đã đƣợc đơn vị phân công mà không báo cáo khoảng thời gian làm việc này.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có khoảng 52% KTV tại đây cho biết rằng họ cần một nổ lực khá lớn để có thể hoàn thành đƣợc nhiệm vụ hoặc họ hoàn toàn không thể hoàn thành đƣợc nhiệm vụ trong quỹ thời gian kiểm toán đƣợc phân công. Có khoảng 25% các KTV đƣợc khảo sát cho rằng họ “đồng ý” hoặc “hoàn toàn đồng ý” rằng họ đã ghi nhận một số bƣớc kiểm toán vào báo cáo công việc mặc dù họ đã không thực hiện chúng và 77% KTV cho rằng họ phải mang công việc về nhà để làm và đã không báo cáo khoảng thời gian làm việc thêm này. Kết quả nghiên cứu tìm ra mối tƣơng quan đáng kể giữa việc cắt giảm một số bƣớc trong quy trình kiểm toán với áp lực thời gian kiểm toán của KTV. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa áp lực về thời gian này với việc không báo cáo đầy đủ thời gian làm việc thực tế lại không đƣợc chứng minh.
Nghiên cứu tại Malaysia của nhóm tác giả Halil Paino, Zubaidah Ismail & Malcolm Smith (2010) cho thấy hiện tƣợng các KTV tại Malaysia chịu áp lực vì thời gian kiểm toán quá ít xảy ra khá phổ biến tại quốc gia này, biểu hiện ở chỗ có hơn 70% KTV đƣợc khảo sát trả lời rằng họ đã phải chịu áp lực thời gian khi thực hiện kiểm toán và 42% KTV nói rằng họ phải sử dụng thời gian cá nhân của mình để hoàn thành công việc nhƣng không báo cáo đầy đủ về khoảng thời gian làm thêm này.