CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động KTĐL luôn là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, trong đó có các nhà nghiên cứu ở Việt Nam. Chương này trình bày tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động KTĐL đã được thực hiện trên thế giới và Việt Nam. Việc lược khảo các nghiên cứu này là cơ sở để tác giả xác định được những khoảng trống nghiên cứu. Các nghiên cứu về chất lượng hoạt động KTĐL được tác giả chia thành hai nhóm: (i) các nghiên cứu công bố ở nước ngoài; và (ii) các nghiên cứu công bố trong nước.
Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài Các công trình nghiên cứu được công bố ở nước ngoài chủ yếu tập trung vào hai hướng nghiên cứu chính. Nhóm thứ nhất đánh giá về chất lượng hoạt động dịch vụ KTĐL. Trong khi nhóm thứ hai tập trung tìm kiếm các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động dịch vụ KTĐL. Nhóm nghiên cứu về chất lượng hoạt động dịch vụ KTĐL Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu tổng hợp của Chadegani (2011) về chủ đề các dòng nghiên cứu chất lượng hoạt động dịch vụ kiểm toán.
Nghiên cứu này tổng hợp lại các nghiên cứu thực nghiệm trong những thập niên vừa qua trên thế giới nhằm đánh giá những gì các nhà nghiên cứu đã thực hiện được về vấn đề chất lượng kiểm toán và chỉ ra các hạn chế trong các tài liệu nghiên cứu này. Chadegani (2011) phân chia những nghiên cứu trong lĩnh vực này thành 07 nhóm: - Sử dụng công cụ đo lường trực tiếp (sự phù hợp của BCTC với Các nguyên tắc kế toán được thừa nhận (GAAP - Generally Accepted Accounting Principles), hay ý kiến về khả năng hoạt động liên tục, hoặc sự phá sản) hoặc gián tiếp (quy mô, danh tiếng, nhiệm kỳ, phí dịch vụ, khả năng chuyên môn hóa) chất lượng kiểm toán; - Các nghiên cứu dựa trên nguồn gốc của sự khác biệt về thể chế giữa các quốc gia, khác biệt thực hành giữa các cá nhân và khác biệt do chuyên môn hóa; 8 - Các nghiên cứu dựa trên kết quả đầu ra (output) (ý kiến kiểm toán), quá trình thực hiện (process) (môi trường kiểm toán, quá trình thực hiện, dự đoán doanh thu và quản trị doanh thu) và dữ liệu đầu vào (input) (nhận thức của KTV và đấu thầu kiểm toán bắt buộc); - Các khía cạnh của tổ chức (công ty và đội ngũ kiểm toán); - Quan điểm hành vi và chất lượng kiểm toán (giảm chất lượng kiểm toán, lý luận đạo đức, mối quan hệ và quan điểm hành vi, đạo đức của KTV, vốn con người, chất lượng hoạt động dịch vụ, chất lượng kỹ thuật, danh tiếng, kinh nghiệm, năng lực, độc lập); - Các nhận thức khác nhau về chất lượng kiểm toán (nhận thức của cổ đông, KTV, các nhà phân tích và chủ tịch ủy ban kiểm toán, khách hàng, thanh tra liên bảng và các nhà báo kinh tế); và - Các dòng nghiên cứu khác. Một nghiên cứu gần đây nhất là của Pham Hoa và cộng sự (2014) tạm dịch là: “Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam”. Nghiên cứu nhằm mục đích kiểm tra nhận thức của đội ngũ KTV về chất lượng kiểm toán và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam.
Thông qua khảo sát ở 10 CTKT khác nhau, tác giả thu về được 128 bảng trả lời từ đội ngũ nhân viên kiểm toán. Kết quả khảo sát cho thấy có mối tương quan tích cực giữa quy mô CTKT và KTV chuyên nghiệp với chất lượng kiểm toán. Ngoài ra, việc đấu thầu cạnh tranh (competitive bidding) để tham gia kiểm toán và dịch vụ phi kiểm toán bổ sung cũng ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán. Thêm vào đó, nhóm tác giả còn chỉ ra rằng những KTV không tham gia thỏa thuận kiểm toán dài hạn (long-term audit engagement) thì đánh giá chất lượng cuộc kiểm toán kém hơn so với những KTV tham gia thỏa thuận kiểm toán dài hạn.
Cuối cùng, nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng doanh thu của nhân viên và công việc trước đây với khách hàng có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng kiểm toán tại Việt Nam. Nghiên cứu đề xuất mở rộng đối tượng khảo sát là những người quản lý, điều hành và người sử dụng báo cáo, cũng như thêm biến tính cạnh tranh về năng lực của các CTKT để đánh giá toàn diện hơn chất lượng dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam 9 1. Nhóm nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động dịch vụ KTĐL 1. Quy mô CTKT Nghiên cứu của DeAngelo (1981b) về quy mô công ty kiểm toán và chất lượng kiểm toán.
Theo DeAngelo, để tồn tại và phát triển CTKT phải nâng cao chất lượng dịch vụ KTĐL. Tuy nhiên, khi phát triển cần nhắc đến biên độ tăng thêm (quasi-rents), đó là áp lực kinh tế khiến cho CTKT cân nhắc đến việc cân bằng chất lượng dịch vụ KTĐL. Cụ thể, CTKT phải xem xét đến việc: (i) có được một đơn vị biên độ tăng thêm từ một khách hàng cụ thể (do CTKT cố tình giảm chất lượng dịch vụ KTĐL để duy trì khách hàng); và (ii) dòng các đơn vị biên độ tăng thêm từ nhiều khách hàng khác có thể bị mất khi những hành vi cố tình làm giảm chất lượng dịch vụ KTĐL của CTKT bị công chúng phát hiện. Nói cách khác, CTKT nào có càng nhiều khách hàng (số lượng khách hàng là một trong những tiêu chí đánh giá quy mô của CTKT) thì càng có khả năng bị mất càng nhiều biên độ tăng thêm trong trường hợp những sai phạm của KTV bị phát hiện.
Như vậy, quy mô (số lượng khách hàng) của CTKT càng lớn thì họ càng bị áp lực kinh tế buộc phải duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụ KTĐL. Ngoài ra, Dye (1993) đã phân tích sự tác động lẫn nhau giữa CMKiT, các quy định liên quan trách nhiệm pháp lý và nguồn lực tài chính của công ty kiểm toán đối với phản ứng và thái độ của công ty kiểm toán trước sự thay đổi của CMKiT và quy định liên quan trách nhiệm pháp lý. CLKT có mối quan hệ với nguồn tài chính của công ty kiểm toán. Quy mô công ty kiểm toán càng lớn với nhiều nguồn lực (deep-pocket) thì có thể thanh toán được tiền phạt trong trường hợp có kiện tụng, điều này cũng làm tăng điều kiện duy trì chất lượng dịch vụ ở mức cao và do vậy cũng sẽ làm giảm tối thiểu khả năng xảy ra các việc kiện tụng.
Một số nhà nghiên cứu khác cũng đồng ý với quan điểm này như Lennox (1999), Shu (2000). Xét trên hai khía cạnh liên quan đến uy tín và trách nhiệm pháp lý của công ty kiểm toán có thể thấy rằng công ty kiểm toán quy mô càng lớn thì có khuynh hướng cung cấp chất lượng dịch vụ càng cao hơn. Quan điểm này được Burton (1986), Wilson và Grimlund 10 (1990), Davis và Simon (1992) chứng minh bằng thực nghiệm rằng giá phí kiểm toán của các công ty kiểm toán có những sai phạm thường có mức thấp hơn các công ty khác. Những điều này cho thấy sự mất đi của “biên độ tăng thêm” là rất lớn khi mà công ty kiểm toán hạ thấp CLKT của dịch vụ cung cấp.
Và nếu số lượng khách hàng (một biến số để đánh giá quy mô của công ty kiểm toán) của công ty kiểm toán khá lớn thì sự gia tăng mất mát càng nhiều và điều này sẽ khiến công ty kiểm toán phải duy trì CLKT ở mức cao hơn. Nghiên cứu của Jong Hag Choi và cộng sự (2010) về quy mô doanh nghiệp kiểm toán, chất lượng kiêm và giá phí kiểm toán. Nghiên cứu này điều tra về mối quan hệ của quy mô của DNKT và giá phí kiểm toán đến CLKT. Tác giả đã sử dụng dữ liệu khảo sát được thu thập từ một mẫu lớn khách hàng của các DNKT từ năm 2000-2005.
Kết quả khảo sát cho thấy quy mô của DNKT có ảnh hưởng đáng kể đến CLKT và giá phí kiểm toán. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho rằng giá phí kiểm toán phụ thuộc vào quy mô công ty khách hàng, tính phức tạp và rủi ro của quá trình kiểm toán. Công trình nghiên cứu của Chia-Chi Lee (2008) ở Trường Kinh doanh Quốc tế Đài Loan về sự ảnh hưởng của quy mô đến hiệu quả hoạt động của các công ty KTĐL. Đây là công trình nghiên cứu được tác giả thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1988-2002 thông qua việc phân tích kết quả khảo sát đối với 370 công ty KTĐL tại Đài Loan.
Kết quả nghiên cứu đã nêu ra kết luận đó là quy mô của công ty kiểm toán có ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả hoạt động đặc biệt là trong mối quan hệ so sánh giữa loại hình các công ty kiểm toán đa quốc gia (international audit firms), công ty kiểm toán lớn (large-size audit firms), công ty kiểm toán có quy mô vừa (medium-size audit firms); tuy nhiên lại chỉ ra rằng sự ảnh hưởng này là không đáng kể trong mối quan hệ so sánh giữa loại hình công ty kiểm toán có quy mô vừa với loại hình công ty kiểm toán có quy mô nhỏ (small-size audit firms). Từ những nghiên cứu kể trên cho thấy, chỉ tiêu quy mô DNKT là một trong những chỉ tiêu rất cơ bản, tiêu biểu để đo lường và đánh giá về chất lượng và hiệu quả kiểm toán. Chỉ tiêu này thường có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với chất lượng và hiệu quả kiểm toán qua nhiều công trình nghiên cứu kể trên. Giá phí kiểm toán Từ trước đến nay cũng đã có khá nhiều nghiên cứu đề cập đến sự tác động của giá phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán.
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau song về cơ bản ý kiến cho rằng việc giảm giá phí kiểm toán thường dẫn đến giảm chất lượng kiểm toán được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình. Giải thích cho điều này đó là việc hạ thấp chi phí có thể tác động đến quỹ thời gian và chi phí dự phòng cho cuộc kiểm toán cũng sẽ bị hạ thấp từ đó gây ra áp lực và khó khăn cho KTV trong việc phát hiện ra các sai phạm trọng yếu do sợ bị mất khách hàng Đầu tiên là nghiên cứu của DeAngelo (1981) với việc đưa ra mô hình phí và chi phí kiểm toán. Mô hình này đã góp phần chỉ rõ mối liên hệ giữa chi phí kiểm toán và mối quan hệ với khách hàng.