Chương 1 đã trình bày các nội dung tổng quát của đề tài như tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu mà đề tài áp dụng trong đề tài, ý nghĩa của đề tài cũng như bố cục của Luận văn. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm chính 2.1 Dịch vụ và chất lượng dịch vụ 2.1 Dịch vụ Trên thế giới ngày nay, nền kinh tế không chỉ đơn thuần bao gồm các sản phẩm vật chất cụ thể, mà bên cạnh đó còn tồn tại các sản phẩm dịch vụ. Dịch vụ đã được coi là ngành công nghiệp không khói. Tổng thu nhập quốc dân của một quốc gia cũng không thể không tính đến sự đóng góp của lĩnh vực dịch vụ.
Nhiều tổ chức cá nhân đầu tư không ít tiền của vào các hoạt động dịch vụ bởi một lẽ đơn giản nó đem lại lợi thế kinh tế cao và đang là xu thế thời đại. Vậy dịch vụ là gì? Nghiên cứu của Zeithaml & Mary (2000) cho rằng: Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Dịch vụ còn được hiểu là sản phẩm vô hình, chúng không đồng nhất với nhau và cũng không thể tách ly ra được, điều này có nghĩa là trong quá trình tiêu dùng dịch vụ thì chất lượng dịch vụ thể hiện trong sự tương tác giữa khách hàng và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ (Svensson, 2002). Theo Kotler (2000) thì dịch vụ là bất cứ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữa một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào.
Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng (Gronroos, 1990). 7 Như vậy, Dịch vụ có thể được hiểu là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng, là sản phẩm vô hình, khách hàng chỉ cảm nhận được sản phẩm thông qua các hoạt động giao tiếp, nhận thông tin và cảm nhận.2 Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ có nhiều cách định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu và việc tìm hiểu chất lượng dịch vụ là cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp cải thiện chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp. Chất lượng dịch vụ được cho là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào. Theo Lewis và cộng sự (1983), Chất lượng dịch vụ là sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với sự mong đợi của khách hàng và việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng một cách độc nhất.
Chất lượng dịch vụ được xác định dựa vào nhận thức hay cảm nhận của khách hàng liên quan đến nhu cầu cá nhân của họ. Nếu kỳ vọng lớn hơn thực tế, khi đó, chất lượng dịch vụ sẽ ít làm thỏa mãn khách hàng hơn, và do đó, khách hàng không hài lòng với dịch vụ (Parasuraman và cộng sự, 1985; Liews & Mitchell, 1990). Xét một cách tổng thể, chất lượng dịch vụ bao gồm các đặc tính sau: (1) Tính đặc trưng: Tổng thể những mặt cốt lõi và tinh túy nhất kết tinh trong quá trình cung cấp dịch vụ tạo nên tính đặc trưng của chất lượng dịch vụ. (2) Tính vượt trội: Đối với khách hàng, dịch vụ có chất lượng là dịch vụ được thể hiện được tính vượt trội của mình so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
8 (3) Tính thỏa mãn nhu cầu: Dịch vụ tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng. Do vậy, chất lượng dịch vụ nhất thiết phải thỏa mãn nhu cầu khách hàng và lấy nhu cầu khách hàng làm cơ sở để cải thiện chất lượng dịch vụ. (4) Tính cung ứng: Nếu tính thỏa mãn nhu cầu bị chi phối bởi tác động của yếu tố bên ngoài thì tính cung ứng bị chi phối bởi những yếu tố nội tại. Chất lượng dịch vụ gắn liền với quá trình thực hiện, chuyển giao dịch vụ đến khách hàng.
Do đó, việc triển khai dịch vụ, phong thái phục vụ và cách thức cung ứng dịch vụ sẽ quyết định mức độ chất lượng dịch vụ cao hay thấp. (5) Tính tạo ra giá trị: Chất lượng dịch vụ gắn liền với các giá trị được tạo ra nhằm phục vụ khách hàng. Dịch vụ không sản sinh ra giá trị nào hết được xem như là không có chất lượng.2 Dịch vụ ngân hàng, chất lượng dịch vụ ngân hàng, chất lượng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm 2.1 Dịch vụ ngân hàng Theo từ điển thuật ngữ tài chính tín dụng: “Sản phẩm dịch vụ ngân hàng được hiểu là những nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện trong việc huy động các nguồn vốn tiền tệ, sử dụng nguồn vốn huy động cho vay, cấp tín dụng, cung ứng các phương tiện thanh cho khách hàng và làm các dịch vụ khác theo sự uỷ thác của khách hàng”. Trịnh Bá Tửu (2005), có hai luồng quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng như sau: - Quan điểm thứ nhất cho rằng: dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ theo chức năng của một trung gian tài chính (cho vay, huy động tiền gửi…), chỉ những hoạt động không thuộc nội dung nói trên mới gọi là dịch vụ ngân hàng; 9 - Quan điểm thứ hai thì cho rằng: tất cả các hoạt động nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại đều được coi là hoạt động dịch vụ.
Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Quan điểm này phù hợp với thông lệ quốc tế. Trong phân tổ các ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam, ngân hàng là ngành được phân bổ trong lĩnh vực dịch vụ. Theo David Cox (1997), dịch vụ ngân hàng là các dịch vụ về vốn, tiền tệ, thanh toán… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản …và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy.
Trong xu hướng phát triển ngân hàng hiện nay, ngân hàng được coi như là một siêu thị dich vụ, một bách hóa tài chính với hàng trăm, thậm chí hàng nghìn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và tùy theo trình độ phát triển của từng ngân hàng.2 Chất lượng dịch vụ ngân hàng Theo Parasuraman và cộng sự (1988), Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Tác giả này cho rằng kỳ vọng trong chất lượng dịch vụ là những mong muốn của khách hàng, nghĩa là họ cảm thấy nhà cung cấp phải thực hiện chứ không phải sẽ thực hiện các yêu cầu của dịch vụ. Trên cơ sở khái niệm về chất lượng dịch vụ nói chung của Parasuraman và cộng sự (1988), Chất lượng dịch vụ ngân hàng có thể được hiểu là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng khi sử dụng dịch vụ NHTM cung ứng và được thực hiện qua mức độ thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng.3 Chất lượng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm Theo Điều 6 Quy Chế về tiền gửi tiết kiệm số 1160/2004 QĐ-NHNN, tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ 10 tiết kiệm, được hưởng lãi theo qui định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo qui định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Căn cứ vào kỳ hạn gửi tiền có thể chia tiền gửi tiết kiệm thành tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thông thường người gửi tiền sẽ được trợ cấp các kỳ hạn gửi tiền cụ thể như: 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng. Với hình thức gửi tiền này khách hàng chỉ có thể rút tiền tại ngân hàng mình gửi sau 1 thời hạn đã được quy định như trên. Ngày cuối của mỗi kỳ hạn gửi tiền sẽ được gọi là ngày đáo hạn. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là sản phẩm tiền gửi cho phép khách hàng được gửi, rút nhiều bất cứ khi nào có nhu cầu và hưởng lãi suất không kỳ hạn theo số dư cuối mỗi ngày.
Đây cũng là một hình thức gửi tiền khá linh hoạt với những khách hàng luôn phải chi tiêu các khoản tài chính đang có nhưng vẫn có thể gửi tiền và nhận lãi từ ngân hàng. Dịch vụ tiền gửi tiết kiệm đó là dịch vụ huy động tiền gửi từ khách hàng thông qua việc bán sản phẩm dịch vụ của ngân hàng và đây cũng là dịch vụ vừa mang các đặc tính chung của một dịch vụ thông thường lại mang đặc tính riêng trong lĩnh vực tài chính như chịu sự chi phối và quản lý của chính sách quốc gia, sự tín nhiệm và minh bạch thông tin, đặc biệt là tính rủi ro phát sinh trong quá trình giao dịch. Tóm lại, chất lượng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm đó là hoạt động từ dịch vụ tiền gửi tiết kiệm mà ngân hàng mang lại cho khách hàng những lợi ích về tài chính, nhằm củng cố và mở rộng mối quan hệ lâu dài của ngân hàng với khách hàng thông qua việc tạo nên sự hài lòng cho khách hàng.3 Sự hài lòng của khách hàng Có rất nhiều nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng của nhiều tác giả và thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này. Theo Parasuraman và cộng sự (1988) định nghĩa sự hài lòng của khách hàng là phản ứng của họ về sự khác biệt cảm nhận giữa kinh nghiệm đã biết và sự mong đợi.