Chương 1 đã giới thiệu những nét chính về Công ty TNHH Kiểm toán RSM như các thông tin chung về đơn vị, lịch sử hình thành và phát triển, tầm nhìn chiến lược, cơ cấu tổ chức, các chức năng và lĩnh vực hoạt động của công ty. Bên cạnh đó chương còn giới thiệu quy trình kiểm toán mà Công ty TNHH Kiểm toán RSM đang áp dụng qua đó cho người đọc cái nhìn tổng quát hơn về công ty. Khoa ĐT CLC – ĐH SPKT TP.HCM 11 do an CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO CÓ SAI SÓT TRỌNG YẾU TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN 2. Tổng quan về lập kế hoạch trong kiểm toán BCTC 2.
Khái niệm “Kế hoạch kiểm toán là những định hướng cơ bản của cuộc kiểm toán dựa trên hiểu biết của kiểm toán viên (KTV) về tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng và trọng tâm cuộc kiểm toán. Vị trí và vai trò của lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán BCTC 2. Vị trí của lập kế hoạch kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các KTV cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như những điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán. Nó không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán đã được quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các KTV phải tuân theo đầy đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng.
Vai trò của lập kế hoạch kiểm toán Nhằm đảm bảo công tác kiểm toán được tiến hành có hiệu quả và chất lượng, KTV phải xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp. Theo đoạn 2, chuẩn mực kiểm toán VSA 300, kế hoạch kiểm toán phù hợp sẽ đem lại lợi ích cho việc kiểm toán BCTC như sau: - Trợ giúp KTV tập trung đúng mức vào các phần hành quan trọng của cuộc kiểm toán; - Trợ giúp KTV xác định và giải quyết các vấn đề có thể xảy ra một cách kịp thời; - Trợ giúp KTV tổ chức và quản lý cuộc kiểm toán một cách thích hợp nhằm đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành hiệu quả; - Hỗ trợ trong việc lựa chọn thành viên nhóm kiểm toán có năng lực chuyên môn và khả năng phù hợp để xử lý các rủi ro dự kiến, và phân công công việc phù hợp cho từng thành viên; - Tạo điều kiện cho việc chỉ đạo, giám sát nhóm kiểm toán và soát xét công việc của nhóm. Khoa ĐT CLC – ĐH SPKT TP.HCM 12 do an 2. Trình tự lập kế hoạch kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm 3 bước công việc như sau: Xây dựng chiến lược kiểm toán tổng thể Xây dựng kế hoạch kiểm toán Tài liệu, hồ sơ kiểm toán Sơ đồ 2.1: Trình tự xây dựng kế hoạch kiểm toán (Nguồn: Giáo trình kiểm toán, 2014, nhà xuất bản Kinh tế TP.
Xây dựng chiến lược kiểm toán tổng thể Việc xây dựng chiến lược kiểm toán tổng thể giúp xác định phạm vi, lịch trình, định hướng của cuộc kiểm toán và để làm cơ sở lập kế kiểm toán. Ngoài ra, còn giúp KTV xác định nhu cầu và cách thức phân bổ nguồn lực phù hợp và hiệu quả. Ví dụ: phân công các thành viên kiểm toán vào từng phần hành, từng giai đoạn của cuộc kiểm toán. Xây dựng chiến lược kiểm toán tổng thể thường bao gồm các công việc sau: - Tình hình kinh doanh của khách hàng (tổng hợp thông tin về lĩnh vực hoạt động, loại hình doanh nghiệp, hình thức sở hữu, công nghệ sản xuất, tổ chức bộ máy quản lý và thực tiễn hoạt động của đơn vị) đặc biệt lưu ý đến những nội dung chủ yếu như: Động lực cạnh tranh, phân tích thái cực kinh doanh của doanh nghiệp cũng như các yếu tố về sản phẩm, thị trường tiêu thụ, giá cả và các hoạt động hỗ trợ sau bán hàng v.
- Xác định những vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính như chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán áp dụng, yêu cầu về lập báo cáo tài chính và quyền hạn của công ty; - Xác định vùng rủi ro chủ yếu của doanh nghiệp và ảnh hưởng của nó tới báo cáo tài chính (đánh giá ban đầu về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát); - Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ; - Xác định các mục tiêu kiểm toán trọng tâm và phương pháp tiếp cận kiểm toán; - Xác định nhu cầu về sự hợp tác của các chuyên gia: Chuyên gia tư vấn pháp luật, kiểm toán viên nội bộ, kiểm toán viên khác và các chuyên gia khác như kỹ sư xây dựng, kỹ sư nông nghiệp v. - Dự kiến nhóm trưởng và thời gian thực hiện; Khoa ĐT CLC – ĐH SPKT TP.HCM 13 do an - Giám đốc duyệt và thông báo kế hoạch chiến lược cho nhóm kiểm toán. Căn cứ kế hoạch chiến lược đã được phê duyệt, trưởng nhóm kiểm toán lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán. Xây dựng kế hoạch kiểm toán Chuẩn mực kiểm toán yêu cầu KTV phải xây dựng kế hoạch kiểm toán, bao gồm: - Nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục đánh giá rủi ro.
- Nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo. - Các thủ tục kiểm toán bắt buộc khác để đảm bảo cuộc kiểm toán tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Xây dựng kế hoạch kiểm toán qua 2 bước: - Các thủ tục đánh giá rủi ro. - Các thủ tục kiểm toán sau đánh giá rủi ro.
Tài liệu, hồ sơ kiểm toán Kiểm toán viên cần phải lưu hồ sơ kiểm toán về quá trình lập kế hoạch kiểm toán, bao gồm: - Các hồ sơ tìm hiểu và đánh giá rủi ro, bao gồm các nội dung đã tìm hiểu được về đơn vị, cũng như các rủi ro được xác định ở cấp độ BCTC cũng như cấp độ cơ sở dẫn liệu. - Các hồ sơ liên quan đến quá trình lập chiến lược tổng thể. Đây là tài liệu ghi lại các quyết định và thông tin quan trọng cần thiết cho việc lập kế hoạch kiểm toán. - Các hồ sơ liên quan đến quá trình lập kế hoạch kiểm toán, bao gồm tài liệu ghi lại nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục đánh giá rủi ro và các thủ tục kiểm toán tiếp theo ở cấp độ cơ sở dẫn liệu đối với các rủi ro đã được đánh giá.
Việc ghi chép này giúp cho việc soát xét và phê duyệt các thủ tục kiểm toán trước khi thực hiện. Kiểm toán viên cũng có thể sử dụng các chương trình kiểm toán mẫu hoặc lập danh mục các thủ tục kiểm cần hoàn thành, được sửa đổi cho phù hợp với từng cuộc kiểm toán cụ thể. Kiểm toán viên phải sử dụng xét đoán chuyên môn để xác định cách lưu hồ sơ kiểm toán phù hợp. Khi kiểm toán các đơn vị nhỏ, các tài liệu về tìm hiểu đơn vị và đánh giá rủi ro có thể được kết hợp trong tài liệu về chiến lược kiểm toán tổng thể và kế hoạch kiểm toán.
Trong quá trình kiểm toán một đơn vị lớn hoặc có những hoạt động phức tạp, kết quả đánh giá rủi ro có thể được lập thành tài liệu riêng biệt. Tổng quan về trọng yếu trong kiểm toán 2. Khái niệm trọng yếu Kiểm toán viên có trách nhiệm đảm bảo hợp lý rằng báo cáo tài chính không có những sai sót trọng yếu. Vì vậy, trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, KTV cần xác lập mức trọng yếu có thể chấp nhận đối với các sai sót phát hiện được.
Để hình dung vấn đề, trước hết cần nghiên cứu về khái niệm trọng yếu và phương pháp vận dụng khái niệm này trong kiểm toán. Khoa ĐT CLC – ĐH SPKT TP.HCM 14 do an “Chuẩn mực chung” định nghĩa: “Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác thông tin đó có thể làm sai sót đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính. Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính.
Như vậy, những vấn đề sau cần làm rõ khi vận dụng khái niệm trọng yếu là: - Một sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính có thể hiện diện dưới hai hình thức: bỏ sót thông tin hoặc cung cấp thông tin không chính xác trên báo cáo tài chính. Các tình huống cụ thể dẫn đến sai sót trên báo cáo tài chính là: Việc thu thập hoặc xử lý dữ liệu không chính xác khi lập báo cáo tài chính. Bỏ sót số liệu hoặc thuyết minh cần công bố. Ước tính kế toán không đúng, điều này phát sinh do đơn vị xem nhẹ hoặc hiểu sai các sự kiện.
Xét đoán của Ban Giám đốc về các ước tính kế toán mà kiểm toán viên cho là không hợp lý. Việc lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán của đơn vị theo KTV là không phù hợp. - Để đánh giá một sai sót có trọng yếu hay không phải đứng trên quan điểm người sử dụng báo cáo tài chính. Nói cách khác, trọng yếu hay không trọng yếu tùy thuộc vào ảnh hưởng của sai sót đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính.
- Về cơ bản, kiểm toán viên sẽ xem xét trên cơ sở những nhóm người sử dụng báo cáo tài chính chứ không xem xét những đối tượng sử dụng thông tin đặc thù, khác biệt với nhu cầu thông tin chung. Ví dụ: khi kiểm toán báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, những đối tượng sử dụng được xác định là các nhà đầu tư và các chủ nợ (hiện hữu hoặc tiềm tàng) – là những cá nhân hay tổ chức cung cấp vốn cho doanh nghiệp và chia sẻ rủi ro. Tuy nhiên, trong một cuộc kiểm toán được xác định cho một đối tượng sử dụng cụ thể, KTV có thể sẽ phải đứng trên quan điểm của đối tượng này để xem xét vấn đề trọng yếu. - Việc đánh giá tính trọng yếu cần phả xem xét trên cả hai phương diện định lượng và định tính.
Trên phương diên định lượng, trọng yếu được cụ thể thành mức trọng yếu, nghĩa là số tiền sai sót tối đa có thể chấp nhận được.