Tổng quan luận án
Hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam chính thức được thiết lập từ năm 1991 với sự ra đời của hai công ty kiểm toán đầu tiên trực thuộc Bộ Tài chính là Công ty Kiểm toán Việt Nam (sau đổi tên thành Delloite Việt Nam) và Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC). Sau hai thập kỷ phát triển, dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, đóng góp tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của các công ty kiểm toán độc lập. Mục đích căn bản của kiểm toán báo cáo tài chính là cung cấp sự bảo đảm hợp lý về tính trung thực, hợp lý và hợp pháp của số liệu tài chính, bảo đảm thông tin không còn chứa đựng những sai sót trọng yếu ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng.
Để nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán, việc xác định và đánh giá chính xác mức trọng yếu cùng rủi ro kiểm toán là một đòi hỏi nghiệp vụ có tính quyết định. Tuy nhiên, thực tế hành nghề tại các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam cho thấy quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro còn nhiều tồn tại, bất cập; một số tổ chức kiểm toán do áp lực doanh thu và cạnh tranh đã chấp nhận mức rủi ro cao, chưa tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực và quy trình nghiệp vụ kiểm toán. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: tại Việt Nam, tuy đã có các công trình nghiên cứu tổng quát về kiểm toán, nhưng chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu toàn diện công tác đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong mối quan hệ hữu cơ với mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động tại các công ty kiểm toán độc lập trong nước.
Xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu trên, luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Về mặt lý luận: Nghiên cứu, hệ thống hóa và làm rõ bản chất mối quan hệ giữa công tác đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán với yêu cầu nâng cao chất lượng kiểm toán của các công ty kiểm toán.
- Về mặt thực tiễn: Khảo sát, phân tích thực trạng đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán và chất lượng kiểm toán tại các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam; làm rõ các hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại; từ đó xác định phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện công tác này nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là công tác đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong mối quan hệ với việc nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung vào các công ty kiểm toán độc lập của Việt Nam, không bao gồm các doanh nghiệp kiểm toán 100% vốn đầu tư nước ngoài. Phạm vi thời gian nghiên cứu phản ánh thực trạng phát triển của ngành kiểm toán độc lập Việt Nam từ khi thành lập năm 1991 đến thời điểm hoàn thành luận án vào năm 2011.
Về ý nghĩa nghiên cứu, luận án góp phần khẳng định vai trò then chốt của đánh giá trọng yếu và rủi ro trong quản trị chất lượng kiểm toán; cung cấp hệ thống giải pháp nghiệp vụ và tổ chức có tính khả thi cho các công ty kiểm toán độc lập; đồng thời đóng góp cơ sở khoa học phục vụ việc hoàn thiện khung pháp lý, chuẩn mực kiểm toán và cẩm nang hướng dẫn hành nghề kiểm toán tại Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Vấn đề đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán và chất lượng kiểm toán đã được nhiều học giả quốc tế nghiên cứu sâu rộng thông qua các công trình tiêu biểu:
- Luận án tiến sĩ của Thomas M. Kozloski tại Đại học Drexel (2002) với đề tài "Đánh giá rủi ro sai phạm của KTV: Tác động của sự tương tự và kinh nghiệm rủi ro từ các đánh giá trước", tập trung xây dựng mô hình phân tích ảnh hưởng của kinh nghiệm và sự tương đồng trong đánh giá rủi ro thông qua phương pháp thử nghiệm thực tế (Pilot Test).
- Luận án tiến sĩ của Vincent E. Owhoso tại Đại học Florida (1998) về "Giảm rủi ro kiểm toán thông qua hoạt động kiểm soát kiểm toán", đã hệ thống hóa các loại rủi ro nảy sinh trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính và đề xuất các giải pháp kiểm tra, soát xét hồ sơ kiểm toán nhằm hạn chế rủi ro, nâng cao chất lượng hoạt động.
- Luận án tiến sĩ của Lau Tze Yiu, Peter tại Đại học Hongkong (1997) với đề tài "Phân tích tác động của rủi ro, trọng yếu và cấu trúc đối với việc lựa chọn bằng chứng kiểm toán", đi sâu phân tích mối quan hệ giữa trọng yếu, rủi ro và chất lượng bằng chứng kiểm toán tại các nền kinh tế mới nổi khu vực Châu Á.
- Nền tảng lý thuyết kiểm toán quốc tế được phản ánh trong các giáo trình: Auditing của Alvin A. Arens và James K. Loebbecke; Auditing: A Risk Analysis Approach; Auditing - A Systematic Approach của McGraw-Hill; cùng hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế do Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), Tổ chức Quốc tế các Cơ quan Kiểm toán Tối cao (INTOSAI) ban hành; các hướng dẫn chuyên môn của Hiệp hội Kế toán viên công chứng Anh (ACCA), Hiệp hội Kế toán viên công chứng Úc (CPA Australia) và tài liệu nghiệp vụ của các tập đoàn kiểm toán quốc tế như Deloitte, KPMG, Ernst & Young (E&Y), PricewaterhouseCoopers (PwC).
Tại Việt Nam, vấn đề lý luận và thực tiễn kiểm toán đã được phản ánh trong hệ thống giáo trình của các cơ sở đào tạo lớn như Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Tài chính. Một số công trình nghiên cứu liên quan đã được công bố gồm:
- Đề tài nghiên cứu khoa học "Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam" do GS. Vương Đình Huệ chủ nhiệm (2001).
- Đề tài khoa học cấp bộ "Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam hiện nay" do PGS. Đoàn Xuân Tiên làm chủ nhiệm (2007).
- Luận văn thạc sĩ "Nâng cao chất lượng quản lý hoạt động kiểm toán tại Công ty Kiểm toán Việt Nam" của tác giả Trần Mạnh Dũng (2005).
- Luận văn thạc sĩ "Hoàn thiện qui trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước cấp huyện do Kiểm toán nhà nước thực hiện" của tác giả Phạm Tiến Dũng (2007).
- Luận văn thạc sĩ "Hoàn thiện qui trình đánh giá rủi ro và trọng yếu trong kiểm toán BCTC của các công ty cao su do Công ty Kiểm toán AASC thực hiện" của tác giả Phạm Xuân Thọ (2008).
- Luận văn thạc sĩ "Hoàn thiện qui trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC doanh nghiệp công ích quốc phòng do Kiểm toán nhà nước thực hiện" của tác giả Trương Hải Yến (2005).
Vị trí của luận án: Các công trình trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề kiểm soát chất lượng ở góc độ quản lý vĩ mô, năng lực cạnh tranh toàn diện, hoặc khảo sát quy trình trọng yếu và rủi ro tại các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp công ích quốc phòng, kiểm toán ngân sách nhà nước hoặc gói gọn trong một doanh nghiệp kiểm toán đơn lẻ. Luận án của tác giả Đoàn Thanh Nga lựa chọn giải quyết khoảng trống nghiên cứu mang tính hệ thống về mối quan hệ giữa đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán với chất lượng kiểm toán tại toàn bộ khối các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam (ngoại trừ khối doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các chuẩn mực kiểm toán chuyên môn và hệ thống lý thuyết kế toán - kiểm toán:
- Khái niệm trọng yếu: Được định nghĩa theo Văn bản Chỉ đạo Kiểm toán Quốc tế số 25 (IAG 25) của IFAC và Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 320 (VSA 320). Trọng yếu là ngưỡng hoặc điểm chia cắt thể hiện lượng sai lệch tối đa có thể chấp nhận được trên báo cáo tài chính mà không làm ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin. Trọng yếu được xem xét trên hai giác độ: quy mô (tuyệt đối, tương đối dựa trên số gốc và ảnh hưởng lũy kế của các sai phạm nhỏ) và bản chất. Về mặt bản chất, văn bản chia thành hai nhóm:
- Nhóm các nghiệp vụ, khoản mục có gian lận hoặc tiềm ẩn gian lận gồm 9 loại: nghiệp vụ đấu thầu/giao thầu không hợp pháp; thanh lý tài sản; nghiệp vụ tiền mặt; mua bán và thanh toán; nghiệp vụ bất thường; phân chia quyền lợi; cố ý bỏ ngoài sổ sách; nghiệp vụ cuối kỳ hoặc mới phát sinh; các khoản mục hoặc chứng từ có sửa chữa.
- Nhóm các nghiệp vụ có sai sót lớn hoặc mang tính hệ trọng gồm 6 trường hợp: phát hiện sai sót quy mô lớn; vi phạm quy tắc kế toán và pháp lý nói chung; sai sót lặp lại nhiều lần mang tính hệ thống; ảnh hưởng nghiêm trọng đến kỳ sau; khoản mục đầu mối gây phản ứng dây chuyền; sai phạm làm thay đổi xu hướng lợi nhuận (từ lỗ sang lãi hoặc ngược lại).
- Khái niệm rủi ro kiểm toán: Được xác định theo IAG 25 và Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400). Rủi ro kiểm toán là khả năng kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã kiểm toán vẫn còn chứa đựng sai sót trọng yếu. Tác giả phân biệt rõ rủi ro kiểm toán (kiểm toán viên kiểm soát trực tiếp qua việc mở rộng hoặc thu hẹp thủ tục kiểm toán) và rủi ro kinh doanh của công ty kiểm toán (tổn thất tài chính hoặc uy tín do bị kiện tụng).
- Mô hình rủi ro kiểm toán: Rủi ro kiểm toán (AR) được cấu thành bởi ba yếu tố độc lập: Rủi ro tiềm tàng (IR), Rủi ro kiểm soát (CR) và Rủi ro phát hiện (DR).
Mối quan hệ được xác định qua công thức:
$$AR = IR \times CR \times DR$$
Từ đó, công thức xác định rủi ro phát hiện làm căn cứ lập kế hoạch thử nghiệm cơ bản là:
$$DR = \frac{AR}{IR \times CR}$$
- Khung lý thuyết xác định mức ước lượng ban đầu về trọng yếu: Tiếp thu nghiên cứu của Holstrum và Messier (1982), Leslie (1985), Warren và Elliott (1986), Pany và Wheeler (1989), cùng mô hình "tiêu chuẩn đo lường kiểm toán" (audit gauge) của Peat Marwick International (KPMG Mỹ).
Phương pháp nghiên cứu của luận án:
- Cơ sở phương pháp luận: Vận dụng phép duy vật biện chứng, xem xét các hiện tượng kinh tế trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
- Phương pháp kỹ thuật thu thập và xử lý số liệu: Sử dụng phối hợp phương pháp điều tra thống kê, phương pháp so sánh, khảo sát thực tế và phân tích định lượng kết hợp định tính.
- Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua phiếu điều tra (gồm câu hỏi đóng và câu hỏi mở) và phỏng vấn trực tiếp tại 2 nhóm đối tượng:
- Nhóm các công ty kiểm toán: Khảo sát tại 22 công ty kiểm toán độc lập Việt Nam, thu về 47 phiếu trả lời hợp lệ từ thành viên ban giám đốc và kiểm toán viên.
- Nhóm khách thể kiểm toán: Điều tra tại 17 đơn vị được kiểm toán, thu thập thông tin từ kế toán trưởng hoặc người phụ trách tài chính.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, hồ sơ tài liệu làm việc thực tế của kiểm toán viên, các báo cáo tổng kết của ngành kiểm toán và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
- Công cụ phân tích: Luận án sử dụng phần mềm thống kê SPSS để xử lý dữ liệu điều tra, tiến hành thống kê mô tả, phân tích hệ số tương quan và thực hiện kiểm định tham số trung bình hai mẫu độc lập (Independent Samples T-Test).
Nội dung chính theo từng chương
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN VỚI VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN
Chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về trọng yếu, rủi ro kiểm toán và mối quan hệ với chất lượng kiểm toán. Nội dung chương khẳng định quá trình vận dụng và đánh giá trọng yếu được tiến hành xuyên suốt cuộc kiểm toán qua 5 bước công việc:
- Bước I: Ước lượng ban đầu về mức trọng yếu đối với toàn bộ báo cáo tài chính.
- Bước II: Phân bổ mức ước lượng ban đầu về trọng yếu cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính (chủ yếu phân bổ cho các tài khoản trên bảng cân đối kế toán).
- Bước III: Ước tính tổng số sai sót trong từng khoản mục (phân loại sai phạm có bằng chứng chắc chắn cần điều chỉnh và sai phạm không trọng yếu hoặc sai phạm dự kiến suy rộng từ mẫu).
- Bước IV: Ước tính sai số kết hợp của toàn bộ báo cáo tài chính.
- Bước V: So sánh sai số tổng hợp ước tính với mức ước lượng ban đầu (hoặc đã điều chỉnh) về trọng yếu để đưa ra kết luận kiểm toán phù hợp.
Liên quan đến việc xác định mức ước lượng ban đầu về trọng yếu, tác giả tổng hợp 10 "nguyên tắc ngón tay cái" (rules of thumb) được thừa nhận trong thực tiễn kiểm toán quốc tế:
| STT |
Tác giả / Tổ chức |
Phương pháp tính mức ước lượng ban đầu về trọng yếu |
| 1 |
Leslie (1985) |
5% Tổng lợi nhuận trước thuế |
| 2 |
Leslie (1985) |
0.5% Tổng tài sản |
| 3 |
Leslie (1985) |
1% Tổng vốn chủ sở hữu |
| 4 |
Leslie (1985) |
0.5% Tổng doanh thu |
| 5 |
CICA (Canada) |
Tính theo thang bậc lợi nhuận gộp (< 20.000 USD: 2-5%; 20.000 - 1.000.000 USD: 1-2%; 1.000.000 - 100.000.000 USD: 0.5-1%; > 100.000.000 USD: 0.5%) |
| 6 |
Leslie (1985) |
Số trung bình cộng của 5 phương pháp trên |
| 7 |
Peat Marwick International |
Mô hình "tiêu chuẩn đo lường kiểm toán" (audit gauge) dựa trên hàm số mũ của doanh thu hoặc tài sản |
| 8 |
Warren và Elliott (1986) |
Xác định mức trọng yếu dựa trên quy mô doanh thu với số mũ 0.86723 |
| 9 |
Warren và Elliott (1986) |
Xác định mức trọng yếu dựa trên lợi nhuận trước thuế với số mũ 0.942554 |
| 10 |
Warren và Elliott (1986) |
Xác định mức trọng yếu dựa trên lợi nhuận thuần với số mũ 0.894640 |
Về rủi ro kiểm toán, chương trình bày trình tự đánh giá gồm 5 giai đoạn:
- Xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn (AR): Dựa vào mức độ tin cậy của bên thứ ba đối với báo cáo tài chính (đo bằng quy mô đơn vị, cơ cấu sở hữu, quy mô công nợ) và khả năng đơn vị gặp khó khăn về tài chính sau kiểm toán (khả năng thanh toán, lịch sử lỗ lãi, mức độ phụ thuộc vào tài trợ).
- Đánh giá rủi ro tiềm tàng (IR) đối với toàn bộ báo cáo tài chính và từng khoản mục quan trọng.
- Đánh giá rủi ro kiểm soát (CR) qua tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Tính toán rủi ro phát hiện có thể chấp nhận (DR) thông qua mô hình rủi ro kiểm toán.
- Thiết kế nội dung, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm cơ bản.
Nội dung chương 1 cũng luận giải mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa rủi ro phát hiện với khối lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập và chi phí kiểm toán. Đánh giá trọng yếu và rủi ro chuẩn xác là tiền đề trực tiếp để tối ưu hóa nguồn lực, hạn chế phát hành ý kiến kiểm toán sai lệch, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của công ty kiểm toán.
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG QUAN HỆ VỚI CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VIỆT NAM
Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn hành nghề tại Việt Nam thông qua số liệu khảo sát và các mẫu biểu hồ sơ kiểm toán thực tế.
- Đặc điểm đối tượng khảo sát: Luận án xây dựng bảng tiêu chí chấm điểm để phân loại các công ty kiểm toán độc lập (Bảng 2.1) và thiết lập danh sách mẫu điều tra gồm 22 công ty kiểm toán trong nước (Bảng 2.2), bao gồm các doanh nghiệp như AASC, AASCN, ACPA, AISC, An Phú, AVA, A&C, ATC, CA&A, CPA Việt Nam, DTL, FADACO, IFC, NWA, Thăng Long, UHY, VAAC, VAE, VFA, VIA, VINAUDI, VNFC AUDIT.
- Thực trạng đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng: Nhiều công ty chưa xây dựng quy trình đánh giá rủi ro khách hàng bài bản trước khi ký hợp đồng kiểm toán, chưa đánh giá đầy đủ tính liêm chính của ban giám đốc đơn vị được kiểm toán.
- Thực trạng xác định mức trọng yếu: Đa số các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam sử dụng chỉ tiêu doanh thu làm số gốc để xác định mức trọng yếu tổng thể (Bảng 2.3). Luận án phân tích hồ sơ tính toán mức trọng yếu cụ thể tại Công ty AASC (Bảng 2.4), phương pháp xác định chênh lệch có thể chấp nhận (Bảng 2.5), và tỷ lệ tính sai phạm có thể bỏ qua tại NEXIA ACPA (Bảng 2.6). Hạn chế nổi bật là việc phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục trên bảng cân đối kế toán hầu như chưa được thực hiện một cách khoa học mà chủ yếu dựa vào ước lượng cảm tính của kiểm toán viên; việc xem xét yếu tố định tính của trọng yếu chưa được chuẩn hóa thành văn bản hướng dẫn.
- Thực trạng đánh giá rủi ro kiểm toán: Tác giả dẫn chiếu ma trận kiểm tra định hướng của Delloite Việt Nam (Bảng 2.7), mô hình độ tin cậy kiểm toán (Bảng 2.8), và giấy tờ làm việc phân tích sơ bộ bảng cân đối kế toán (Biểu 2.1). Thực tế tại phần lớn các công ty trong nước cho thấy: việc đánh giá rủi ro tiềm tàng còn mang tính hình thức; việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát chưa sâu, ít sử dụng các bảng câu hỏi kiểm soát chuẩn hoặc lưu đồ mô tả chu trình nghiệp vụ; mô hình rủi ro kiểm toán chưa được vận dụng triệt để trong việc định lượng quy mô mẫu kiểm toán.
- Kết quả phân tích thống kê từ phần mềm SPSS: Luận án tổng hợp kết quả điều tra qua Bảng 2.9, tính toán hệ số tương quan (Bảng 2.10), phân loại nhóm nghiên cứu (Bảng 2.11), và thực hiện kiểm định tham số trung bình hai mẫu độc lập (Bảng 2.12). Kết quả kiểm định thống kê khẳng định có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm công ty kiểm toán về mức độ hoàn thiện trong quy trình đánh giá trọng yếu, rủi ro và mối liên hệ thuận chiều với chất lượng cuộc kiểm toán.
- Đánh giá tổng quát:
- Kết quả đạt được: Các công ty kiểm toán đã bước đầu tiếp cận các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA 320, VSA 400), áp dụng tài liệu mẫu và có ý thức kiểm soát rủi ro kiểm toán.
- Những tồn tại, hạn chế (trang 141): Quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro chưa đồng bộ; thiếu công cụ phân bổ trọng yếu cụ thể; đánh giá rủi ro kiểm soát chủ yếu dừng ở mức mô tả định tính, chưa kết nối trực tiếp với phạm vi thử nghiệm cơ bản; một số đơn vị hạ thấp mức độ thận trọng để giảm chi phí kiểm toán nhằm cạnh tranh.
- Nguyên nhân của hạn chế (trang 144): Sự cạnh tranh gay gắt về giá phí kiểm toán trên thị trường; hệ thống cẩm nang kiểm toán mẫu quốc gia chưa hoàn thiện; năng lực và tính chuyên nghiệp của đội ngũ kiểm toán viên chưa đồng đều; cơ chế kiểm tra, kiểm soát chất lượng từ phía cơ quan quản lý và hội nghề nghiệp còn thiếu chế tài nghiêm ngặt.
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN VỚI VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VIỆT NAM
Chương 3 trình bày tính tất yếu khách quan và xác định phương hướng hoàn thiện công tác đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp trọng tâm:
- Nhóm giải pháp về nghiệp vụ chuyên môn:
- Hoàn thiện kỹ thuật phân bổ mức trọng yếu: Tác giả đề xuất phương pháp phân bổ mức ước lượng ban đầu về trọng yếu cho các khoản mục trên bảng cân đối kế toán dựa trên quy mô tài khoản, tính chất rủi ro và chi phí kiểm toán dự kiến. Luận án xây dựng ví dụ minh họa chi tiết áp dụng cho Bảng cân đối kế toán tại ngày 31/12/N của Công ty ABC (Bảng 3.1) và thiết lập Bảng phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục tài sản, nguồn vốn (Bảng 3.2).
- Hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro kinh doanh của khách hàng: Luận án chuẩn hóa trình tự đánh giá rủi ro kinh doanh (Sơ đồ 3.1) và các nhân tố môi trường kinh doanh cần xem xét (Sơ đồ 3.2). Đề xuất kiểm toán viên áp dụng các công cụ quản trị hiện đại vào giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán gồm:
- Phân tích SWOT đối với các nội dung rủi ro kinh doanh (Bảng 3.3);
- Phân tích mô hình PEST để đánh giá tác động của môi trường chính trị, kinh tế, xã hội và công nghệ đến hoạt động của khách hàng (Bảng 3.4);
- Ứng dụng mô hình Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard - Sơ đồ 3.3) để xem xét toàn diện mục tiêu tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ và học hỏi phát triển của doanh nghiệp.
- Hoàn thiện đánh giá rủi ro kiểm soát và thiết kế thử nghiệm kiểm toán: Xây dựng bảng đánh giá rủi ro kiểm soát đối với từng cơ sở dẫn liệu trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ (Bảng 3.5); thiết kế bảng các thử nghiệm kiểm soát tương ứng với từng cơ sở dẫn liệu (Bảng 3.6); chuẩn hóa hệ thống ký hiệu sơ đồ dòng thông tin và chu trình kiểm soát nội bộ (Bảng 3.7).
- Nhóm giải pháp về tổ chức:
- Xây dựng và áp dụng bộ tiêu chí chấm điểm để phân loại các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam (Bảng 3.8) nhằm phục vụ quản lý chất lượng và phân cấp kiểm toán.
- Thiết lập hệ thống kiểm soát chất lượng nội bộ nghiêm ngặt tại các công ty kiểm toán, bắt buộc thực hiện soát xét độc lập hồ sơ kiểm toán đối với khâu đánh giá trọng yếu và rủi ro trước khi phát hành báo cáo kiểm toán.
- Tăng cường đào tạo chuyên môn định kỳ cho kiểm toán viên về kỹ năng phân tích định lượng và đánh giá rủi ro gian lận.
- Kiến nghị thực hiện các giải pháp (trang 218):
- Đối với Bộ Tài chính: Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới phù hợp với thông lệ quốc tế; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chất lượng định kỳ và công khai kết quả đánh giá các công ty kiểm toán độc lập.
- Đối với Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA): Tăng cường vai trò hỗ trợ chuyên môn, xây dựng bộ cẩm nang kiểm toán mẫu chuẩn hóa, tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về đánh giá trọng yếu và mô hình rủi ro.
- Đối với các công ty kiểm toán độc lập: Đầu tư nguồn lực xây dựng cẩm nang kiểm toán nội bộ, áp dụng công nghệ thông tin trong phân tích dữ liệu kiểm toán, chuyển đổi mô hình định hướng rủi ro trong toàn bộ quy trình kiểm toán.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự nêu những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ bản chất mối quan hệ tác động qua lại giữa công tác đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán với chất lượng kiểm toán trong điều kiện cụ thể của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam.
- Khái quát hóa và cụ thể hóa quy trình 5 bước đánh giá trọng yếu và quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán theo hướng định lượng, kết nối chặt chẽ kết quả đánh giá rủi ro phát hiện với quy mô các thử nghiệm cơ bản.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Khảo sát toàn diện thực trạng hành nghề thông qua mẫu nghiên cứu 22 công ty kiểm toán độc lập và 17 đơn vị khách thể kiểm toán; sử dụng phần mềm thống kê SPSS để lượng hóa các mối quan hệ giữa đánh giá rủi ro, trọng yếu với chất lượng kiểm toán.
- Đánh giá khách quan các ưu điểm, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của các tồn tại trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam thời điểm 2011.
- Hệ thống giải pháp đề xuất:
- Cung cấp mô hình kỹ thuật phân bổ mức trọng yếu cụ thể cho các khoản mục trên bảng cân đối kế toán (ví dụ thực nghiệm tại Công ty ABC).
- Đề xuất quy trình ứng dụng các công cụ phân tích chiến lược (SWOT, PEST, Balanced Scorecard) trong đánh giá rủi ro kinh doanh của khách hàng kiểm toán.
- Xây dựng hệ thống mẫu biểu hoàn chỉnh về đánh giá rủi ro kiểm soát và thiết kế thử nghiệm kiểm soát gắn liền với từng cơ sở dẫn liệu.
- Đề xuất bộ tiêu chí phân loại công ty kiểm toán và hệ thống kiến nghị đồng bộ đối với Bộ Tài chính, Hội nghề nghiệp và các công ty kiểm toán độc lập.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn trong khối các công ty kiểm toán độc lập của Việt Nam, loại trừ các doanh nghiệp kiểm toán 100% vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; do đó các kết luận chưa bao quát được toàn diện bức tranh ngành kiểm toán độc lập có yếu tố nước ngoài.
- Quy mô mẫu điều tra thực nghiệm dừng lại ở 22 công ty kiểm toán (thu về 47 phiếu hợp lệ) và 17 khách thể kiểm toán; cỡ mẫu còn ở mức độ nhất định do khó khăn trong việc tiếp cận hồ sơ làm việc bảo mật của kiểm toán viên.
- Dữ liệu khảo sát và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phản ánh bối cảnh thực tiễn tính đến năm 2011.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát đối với các công ty kiểm toán có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm so sánh đối chuẩn quy trình nghiệp vụ giữa các nhóm doanh nghiệp kiểm toán.
- Mở rộng quy mô mẫu khảo sát đối với các đơn vị khách thể kiểm toán thuộc nhiều lĩnh vực và quy mô kinh doanh khác nhau trên phạm vi cả nước.
- Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro theo các chuẩn mực kiểm toán quốc tế mới ban hành trong các giai đoạn tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn phục vụ các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán và Phân tích: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu kiểm toán, mô hình rủi ro kiểm toán, kỹ thuật xử lý dữ liệu khảo sát bằng phần mềm SPSS và hệ thống 10 "nguyên tắc ngón tay cái" trong xác định trọng yếu.
- Giảng viên chuyên ngành kiểm toán tại các trường đại học: Làm tư liệu giảng dạy thực tiễn cho các học phần Kiểm toán căn bản, Kiểm toán tài chính, Hệ thống kiểm soát nội bộ và Đánh giá rủi ro.
- Ban giám đốc và kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán độc lập: Tham khảo áp dụng trực tiếp kỹ thuật phân bổ mức trọng yếu cho bảng cân đối kế toán (mô hình Công ty ABC), quy trình phân tích SWOT - PEST - Balanced Scorecard trong đánh giá rủi ro kinh doanh, và các bảng thiết kế thử nghiệm kiểm soát theo cơ sở dẫn liệu (Bảng 3.5, Bảng 3.6).
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính) và các hiệp hội nghề nghiệp (VACPA): Cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ việc biên soạn cẩm nang kiểm toán mẫu, hoàn thiện chuẩn mực kiểm toán và xây dựng tiêu chí phân loại, kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định mô hình rủi ro kiểm toán và công thức tính rủi ro phát hiện như thế nào?
Luận án xác định rủi ro kiểm toán (AR) cấu thành bởi ba thành phần độc lập: rủi ro tiềm tàng (IR), rủi ro kiểm soát (CR) và rủi ro phát hiện (DR) theo mô hình:
$$AR = IR \times CR \times DR$$
Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên ấn định trước mức rủi ro kiểm toán mong muốn (AR), tiến hành đánh giá IR và CR, từ đó xác định mức rủi ro phát hiện có thể chấp nhận (DR) theo công thức:
$$DR = \frac{AR}{IR \times CR}$$
Mức rủi ro phát hiện tỷ lệ nghịch với quy mô bằng chứng kiểm toán cần thu thập.
2. Luận án đã tổng kết 10 "nguyên tắc ngón tay cái" để xác định mức ước lượng ban đầu về trọng yếu từ những nguồn nghiên cứu nào?
10 nguyên tắc này được tổng hợp từ các nghiên cứu quốc tế của Leslie (1985), Warren & Elliott (1986), Hiệp hội Kế toán viên công chứng Canada (CICA) và mô hình audit gauge của Peat Marwick International (KPMG Mỹ), sau đó được kiểm nghiệm bởi Pany và Wheeler (1989) trên dữ liệu 330 công ty Mỹ giai đoạn 1977-1986. Các chỉ tiêu số gốc phổ biến gồm: 5% tổng lợi nhuận trước thuế; 0.5% tổng tài sản; 1% tổng vốn chủ sở hữu; 0.5% tổng doanh thu; thang bậc tỷ lệ theo lợi nhuận gộp; và số trung bình cộng của các chỉ tiêu này.
3. Mẫu khảo sát thực tiễn của đề tài được triển khai trên quy mô nào và phân tích bằng công cụ gì?
Luận án tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp tại hai nhóm đối tượng: (1) 22 công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam, thu về 47 phiếu điều tra từ thành viên ban giám đốc và kiểm toán viên kết hợp phỏng vấn sâu; (2) 17 đơn vị khách thể kiểm toán, thu thập thông tin từ kế toán trưởng hoặc người phụ trách tài chính. Toàn bộ số liệu khảo sát được tổng hợp và phân tích định lượng bằng phần mềm thống kê SPSS thông qua thống kê mô tả, phân tích tương quan và kiểm định tham số trung bình hai mẫu độc lập (Independent Samples T-Test).
4. Khi xét đoán bản chất định tính của trọng yếu, luận án chỉ rõ những nhóm khoản mục nào tiềm ẩn nguy cơ gian lận cao?
Luận án liệt kê 9 loại nghiệp vụ và khoản mục chứa đựng nguy cơ gian lận cao gồm: (1) Các nghiệp vụ đấu thầu và giao thầu, giao dịch không hợp pháp; (2) Các nghiệp vụ thanh lý tài sản; (3) Các nghiệp vụ về tiền mặt; (4) Các nghiệp vụ về mua bán và thanh toán; (5) Các nghiệp vụ bất thường; (6) Các nghiệp vụ phân chia quyền lợi; (7) Các nghiệp vụ cố ý bỏ ngoài sổ sách; (8) Các nghiệp vụ xảy ra vào cuối kỳ quyết toán hoặc loại nghiệp vụ mới phát sinh; (9) Các khoản mục, chứng từ có dấu hiệu sửa chữa.
5. Luận án đề xuất kiểm toán viên vận dụng những công cụ quản trị chiến lược nào vào đánh giá rủi ro kinh doanh của khách hàng tại Chương 3?
Tại Chương 3, tác giả đề xuất kiểm toán viên đưa vào quy trình kiểm toán ba công cụ quản trị chiến lược để đánh giá rủi ro kinh doanh: (1) Mô hình phân tích SWOT để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ liên quan đến rủi ro hoạt động của khách hàng; (2) Mô hình phân tích PEST để phân tích các yếu tố môi trường vĩ mô (Chính trị, Kinh tế, Xã hội, Công nghệ); (3) Mô hình Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard) nhằm xem xét toàn diện hoạt động của doanh nghiệp trên bốn phương diện: tài chính, khách hàng, quy trình kinh doanh nội bộ, và học hỏi - phát triển.
Kết luận
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Đoàn Thanh Nga đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về trọng yếu và rủi ro kiểm toán, làm rõ vai trò quyết định của hai yếu tố này đối với chất lượng hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính. Thông qua khảo sát thực tiễn tại 22 công ty kiểm toán độc lập Việt Nam và 17 đơn vị khách thể với sự trợ giúp của phần mềm SPSS, công trình đã lượng hóa thực trạng và nhận diện các nguyên nhân cốt lõi của những bất cập trong thực tiễn kiểm toán trong nước. Các giải pháp đề xuất tại Chương 3 mang tính thực hành cao, đặc biệt là kỹ thuật phân bổ trọng yếu cho bảng cân đối kế toán, việc tích hợp các mô hình SWOT, PEST, Thẻ điểm cân bằng vào đánh giá rủi ro kinh doanh, cùng hệ thống bảng thử nghiệm kiểm soát theo cơ sở dẫn liệu. Luận án là tài liệu nghiên cứu và tham khảo chuyên môn có giá trị cho công tác đào tạo, quản lý nhà nước và hoạt động hành nghề kiểm toán độc lập tại Việt Nam.