CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này tác giả trình bày một số các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến chất lượng kiểm toán, bao gồm các nghiên cứu nước ngoài, nghiên cứu trong nước, từ đó rút ra những nhận xét và khe hổng nghiên cứu của mảng đề tài này. Các nghiên cứu nước ngoài Linda Elizabeth DeAngelo (1981), “Audit size and Audit quality”, tên tiếng Việt tạm dịch là “Quy mô Kiểm toán và Chất lượng Kiểm toán”. Nghiên cứu này đề cập đến mối quan hệ giữa Quy mô doanh nghiệp Kiểm toán và giá phí kiểm toán ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ Kiểm toán. Với giá phí kiểm toán, các công ty kiểm toán thường có xu hướng ấn định mức giá phí kiểm toán ở năm đầu tiên dưới mức chi phí thực tế mà công ty bỏ ra để thu được lợi nhuận tăng thêm trong tương lai từ việc thực hiện các hợp đồng này.
Điều này cũng tạo ra mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với khách hàng qua đó làm suy giảm tính độc lập của KTV và dẫn đến giảm chất lượng kiểm toán. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các công ty kiểm toán có quy mô lớn thường có chất lượng được đánh giá bởi thị trường cao hơn các công ty kiểm toán có quy mô nhỏ, bởi vì Quy mô (số lượng khách hàng) của CTKT càng lớn thì càng bị áp lực kinh tế, đòi hỏi phải duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụ Kiểm toán BCTC.Moon (2005), “Auditor tenur and perceptions of audit quality”. Nghiên cứu này sử dụng mẫu nghiên cứu được lấy từ danh sách các công ty giao dịch công khai hàng năm từ năm 1990 đến năm 2000, có hợp đồng kiểm toán với các CTKT độc lập ít nhất 5 năm. Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa nhiệm kỳ Kiểm toán và CLKT bằng nhận thức của các đối tượng tham gia thị trường vốn, có 03 đối tượng chủ yếu sử dụng BCTC là chủ đầu tư, cơ quan đánh giá độc lập và các nhà phân tích tài chính.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệm kỳ kế toán có tác động tích cực đến CLKT.Zang (2010), “Audit office size, audit quality and audit pricing”. Nghiên cứu này được thực hiện với mẫu gồm 963 văn phòng công ty thuộc 387 CTKT nằm trong 50 tiểu bang của Hoa Kỳ, cơ sở dữ liệu giai đoạn 2000-2005, bằng phương pháp hồi quy tuyến tính tác giả xem xét mối quan hệ giữa quy mô công ty với chất lượng Kiểm toán và quy mô công ty với giá phí Kiểm toán. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô công ty có liên quan tích cực đến CLKT, quy mô công ty càng lớn thì mức độ đảm bảo cung cấp dịch vụ càng cao, có khả năng chống lại áp lực, giảm sai lệch BCTC, nâng cao chất lượng BCTC và ngược lại. Đồng thời, quy mô càng lớn thì thu phí Kiểm toán càng cao, tương hợp với quan điểm quy mô càng lớn thì chất lượng càng cao và khoản phí chênh lệch này được xem là phí bảo hiểm trong thị trường kinh doanh dịch vụ kiểm toán.Svantroms (2013), nghiên cứu dịch vụ phi kiểm toán và chất lượng Kiểm toán: bằng chứng từ các công ty tư nhân.
Nghiên cứu sử dụng mẫu gồm các DNNVV ở Thụy Điển. Nghiên cứu này chủ yếu kiểm tra mối quan hệ giữa CLKT và các dịch vụ phi kiểm toán trong các công ty tư nhân, đây là một vấn đề hiếm khi được xem xét trong các nghiên cứu trước đó.Rủi ro đối với tính độc lập của KTV là khác nhau giữa công ty tư nhân so với công ty nhà nước, giống như KTV sử dụng cùng kiến thức để kiểm toán và thực hiện dịch vụ phi Kiểm toán cho cùng một khách hàng thì hiệu quả cung cấp chất lượng dịch vụ có thể là khác nhau. Kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng chất lượng dịch vụ phi Kiểm toán có tác động tích cực đến CLKT. Và các loại dịch vụ phi Kiểm toán được đề cập trong nghiên cứu này là tư vấn và hỗ trợ các dịch vụ về Kế toán, Thuế, hợp pháp và đầu tư.Nawas, Ramanda (2013), nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán: Trường hợp của các ngân hàng thương mại ở Jordan.Nghiên cứu này lựa chọn đối tượng khảo sát là các KTV đang làm việc cho các CTKT đang thực hiện kiểm toán cho các ngân hàng tại Jordan.
Trước hết tác giả đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán các ngân hàng thương mại ở Jordan gồm 7 nhân tố: Hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng, Quy mô 7 CTKT, Giá phí Kiểm toán, Tính độc lập của KTV, Danh tiếng công ty kiểm toán, mức độ chuyên sâu trong lĩnh vực được kiểm toán, Năng lực của KTV ảnh hưởng đến CLKT. Tuy nhiên bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 4 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán các ngân hàng thương mại ở Jordan gồm: Danh tiếng CTKT, Giá phí kiểm toán, Năng lực KTV, Mức độ chuyên sâu của KTV. Các nghiên cứu trong nước Trần Khánh Lâm (2011) với nghiên cứu “Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam”. Luận án tiến sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP.
Hồ Chí Minh. Nghiên cứu đi sâu vào việc đánh giá những hạn chế cơ bản của cơ chế KSCL đối với hoạt động KTĐL tại Việt Nam trên cả hai phương diện KSCL từ bên trong và bên ngoài. Trên cơ sở kết hợp phương pháp định tính và định lượng (chủ yếu là định lượng) thực hiện trên cơ sở mẫu khảo sát là 35 công ty KTĐL khác nhau trong năm 2009 tác giả đã đưa ra kết luận rằng: Các công ty KTĐL tại Việt Nam có quy mô càng lớn, nguồn lực tài chính càng dồi dào thì chỉ số chất lượng kiểm toán càng cao; CTKT có mức độ chuyên sâu và thực hiện việc luân chuyển KTV định kỳ thì luôn đạt được chất lượng kiểm toán tốt; Việc hạ thấp giá phí kiểm toán có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng kiểm toán và phần lớn các CTKT nhỏ do thiếu nguồn lực nên không thể duy trì hoặc thực hiện đều đặn các việc xây dựng hệ thống chính sách và thủ tục KSCL đạt hiệu quả; Việc thực hiện KSCL từ bên trong của các công ty KTĐL tại Việt Nam còn chưa được quan tâm đúng mức. Trên cơ sở các kết luận rút ra tác giả đã đưa ra các quan điểm và giải pháp nhằm xây dựng cơ chế KSCL hoạt động KTĐL theo hướng nâng cao hơn nữa chất lượng kiểm toán cũng như điều chỉnh quy mô CTKT, tăng cường quản lý về giá phí kiểm toán, nâng cao trình độ KTV, xây dựng cơ chế KSCL từ bên trong và bên ngoài.
Nguyễn Thị Thảo Nguyên (2013) thực hiện “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp đến chất lượng kiểm toán và Đề xuất giải pháp”. 8 Nghiên cứu sử dụng các phương pháp như thống kê mô tả, so sánh, đánh giá nhằm tìm hiểu về thực trạng tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của các KTV hành nghề tác động đến CLKT tại Việt Nam. Qua nghiên cứu thực trạng chất lượng kiểm toán, tác giả đưa ra các nhận xét liên quan đến những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong chất lượng kiểm toán, kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty CLKT thấp là do không thực hiện đầy đủ các yếu tố liên quan đến tính độc lập của KTV trong công tác kiểm toán, đồng thời tác giả này khẳng định, tính độc lập và việc tuân thủ các chuẩn mực chuyên môn của kiểm toán viên và CTKT có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng kiểm toán. Cuối cùng nghiên cứu đề xuất các kiến nghị, giải pháp có liên quan nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán thông qua việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của các kiểm toán viên.
Đinh Thanh Mai (2014) với nghiên cứu“Các nhân tố ảnh hưởng chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam – Khảo sát trên đại bàn TP. Nghiên cứu này được thực hiện bằng việc sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp trong đó có sự kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Sử dụng công cụ khảo sát là bảng câu hỏi được gửi trực tiếp hoặc thông qua email hoặc khảo sát trực tiếp thông qua công cụ Google Docs. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán tại các CTKT độc lập gồm: Quy mô của CTKT, Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài, Đạo đức nghề nghiệp của KTV.
Cuối cùng, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị liên quan đến từng nhân tố nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam – Khảo sát trên đại bàn TP. Đỗ Hữu Hải và Ngô Sỹ Trung (2015) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của các công ty Kiểm toán BCTC ở các doanh nghiệp Việt Nam”. Để thực hiện nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng, xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS, kiểm tra độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và kiểm định mô hình tuyến tính với mẫu nghiên cứu gồm 150 KTV. Qua 9 nghiên cứu, tác giả chỉ ra trình độ nghề nghiệp là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến CLKT trong việc lập các BCTC của doanh nghiệp và môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, tính độc lập, hệ thống kiểm soát chất lượng của CTKT không ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC.
Từ đó, thiết kế các thủ tục kiểm toán thích hợp phát hiện gian lận và khuyến khích KTV tăng cường các thủ tục kiểm toán hiệu quả để phát hiện gian lận trong quá trình kiểm toán BCTC. Phan Văn Dũng (2015) với nghiên cứu“Các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế”. Nghiên cứu này sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu đã khám phá và chỉ ra mức độ cũng như thứ tự tác động của các nhân tố chất lượng kiểm toán theo thứ tự quan trọng là:Phương pháp luận và nhận thức của KTV, Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài và hệ thống pháp luật về kiểm toán, Chiến lược kinh doanh, Chi phí kiểm toán, Giá phí kiểm toán, Tính độc lập.
Nguyễn Minh Châu (2016) với nghiên cứu“Các nhân tố bên trong công ty kiểm toán độc lập tác động đến chất lượng Kiểm toán BCTC tại Việt Nam”.