CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu Phần giới thiệu đã xác định trọng tâm cần phải thực hiện, từ đó, tác giả tiến hành tổng hợp về các công bố trước đây liên quan đến chủ đề. Tác giả tổng hợp các hướng nghiên cứu chính liên quan đến khái niệm trọng tâm của đề tài là PS. Từ đó, tác giả tổng quan các công bố trước đây nhằm khái quát vấn đề nghiên cứu với hai phần.
Phần thứ nhất, tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến PS dựa trên các chủ thể tác động trực tiếp đến khái niệm chính. Phần thứ hai, tổng quan các nghiên cứu trước về tác động của PS đến AQ. Tiếp đến, tác giả đưa ra những kết quả trước đã đạt được để có cái nhìn khái quát về chủ đề, xác định khe hổng và các vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong phạm vi của Luận án. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến Luận án Dựa trên chủ đề của các công trình công bố được khảo sát, tác giả phân loại các nghiên cứu trước đây xoay quanh chủ đề về PS thành ba hướng nghiên cứu chính như sau: Thứ nhất, các công bố tập trung vào mục tiêu làm rõ khái niệm PS của KTV dựa trên các lý thuyết tâm lý học.
Khái niệm về PS có thể được nhìn nhận dưới góc độ nghiên cứu hoặc thực tế. Tuy nhiên, cả hai góc độ này ít biến động, nên các công bố thuộc chủ đề này tập trung phân tích các thành phần cấu thành của PS và so sánh các thành phần này dưới các góc nhìn khác nhau nhằm xây dựng thang đo. Nghiên cứu mang tính khái quát được đăng tải trên tạp chí hàng đầu trong lĩnh vực kiểm toán về cấu trúc của PS bao gồm: Robinson và cộng sự (2018); Quadackers và cộng sự (2014); Hurtt (2010). Thứ hai, các công bố tập trung vào xác định các nhân tố ảnh hưởng đến PS.
Đây là chủ đề được quan tâm nhiều nhất vì PS được xem là một nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công việc của KTV, AQ (Hurtt và cộng sự, 2013; Nelson, 2009). Các công bố thuộc chủ đề này có thể xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến PS theo các mô hình gom nhóm các yếu tố. Hai mô hình tổng hợp có hệ thống các công bố về vấn đề này trên tạp chí dẫn đầu trong lĩnh vực kiểm toán Auditing: A Journal of Practice & Theory bao gồm Hurtt và cộng sự (2013); Nelson (2009). luan an 11 Thứ ba, các công bố tập trung vào xem xét ảnh hưởng của PS đến AQ hoặc khái niệm khác trong cuộc kiểm toán, như hành vi của KTV.
Đây là chủ đề được xem xét riêng lẻ về PS của KTV ảnh hưởng đến AQ. Một số công bố của hướng nghiên cứu này như: Bowlin và cộng sự (2015); Chen và cộng sự (2012). Phạm vi nghiên cứu đã đề cập, tác giả tập trung trình bày tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến PS của KTV, và tác động của PS đến AQ dựa trên các nghiên cứu trước đây. Các quan điểm về thái độ hoài nghi nghề nghiệp PS là khái niệm chưa thống nhất và rất khó đo lường, tùy thuộc vào quan điểm tiếp cận, có những khái niệm khác nhau về PS.
Một số các công bố đã đưa ra khái niệm PS là khả năng phát hiện gian lận (Carcello và Neal, 2000; Choo và Tan, 2000), sự nghi ngờ (đối lập với sự tin tưởng) (Shaub, 1996), sự sai lệch chủ quan trong xét đoán chuyên môn (McMillan và White, 1993), tương đương với sự độc lập (Nolder và Kadous, 2014). Các công bố gần đây đều dựa trên hai quan điểm này để nhìn nhận và đo lường PS. Quan điểm khá nghi ngờ Quan điểm này được thể hiện rõ ràng qua Nelson (2009). Bài báo cung cấp mô hình mô tả cách thức bằng chứng kết hợp với kiến thức, đặc điểm và động cơ của KTV để đưa ra xét đoán của KTV.
Tiếp theo, mô hình mô tả cách thức đưa ra xét đoán của KTV phản ảnh được mức độ hoài nghi nghề nghiệp, xét đoán của KTV kết hợp với kiến thức, đặc điểm và động cơ của KTV để tạo ra các hành động dựa trên thái độ hoài nghi nhằm phản ánh mức độ hoài nghi nghề nghiệp ở mức cao hay thấp. Quan điểm khá nghi ngờ giả định KTV thể hiện thái độ rằng có mức độ không trung thực hoặc sai lệch trong CSDL được khẳng định bởi nhà quản lý đối với tính trung thực của BCTC trừ khi có bằng chứng thích hợp cho thấy điều ngược lại (Bell và cộng sự, 2005). Quan điểm này phù hợp với kế toán điều tra (POB, 2000). Từ quan điểm này, KTV sẽ tập trung nhiều hơn vào các bằng chứng liên quan đến các sai sót luan an 12 được phát hiện hơn các vấn đề khác, chẳng hạn như sự thay đổi trong lĩnh vực kinh doanh (McMillan và White, 1993, Smith và Kida, 1991).
Chính vì vậy, theo Quadackers và cộng sự (2014), PS dưới góc nhìn của quan điểm khá nghi ngờ được đo lường thông qua đảo ngược thang đo của Rotter (Rotter, 1967). Vì thang đo Rotter (1967) đánh giá mức độ tin tưởng, sử dụng đánh giá ngược sẽ phản ánh PS. Thang đo này phản ánh tương quan giữa tính cách của KTV và PS. Quan điểm trung lập Quan điểm này thể hiện rõ ràng qua Hurtt (2010).
Bài báo cho rằng PS là đặc điểm cá nhân đa chiều. Là một đặc điểm cá nhân, PS có thể là một đặc tính tương đối ổn định, bền vững của cá nhân và cũng là một trạng thái trạng thái tạm thời do biến cố tác động. Hurtt (2010) phát triển thang đo để đo lường đặc điểm ổn định của cá nhân về PS bắt nguồn từ các tiêu chuẩn kiểm toán, tâm lý học, triết học và nghiên cứu hành vi. Mô hình diễn tả đặc điểm của PS của KTV và các biến cố tác động đến KTV tạo ra trạng thái của PS.
Quan điểm trung lập đề cập đến quan điểm KTV được giả định thể hiện thái độ không định kiến đối với CSDL được nêu bởi nhà quản lý đối với tính trung thực của BCTC (Nelson, 2009). Các công bố ủng hộ quan điểm này như Cushing (2000) cho rằng KTV cố gắng không nên có định kiến trong việc hình thành niềm tin của KTV, cụ thể không nên có định kiến theo hướng tích cực (tin tưởng) hoặc tiêu cực (nghi ngờ). Nelson (2009) cũng đồng ý với lập luận rằng quan điểm trung lập đây là quan điểm phù hợp với quan điểm của cơ quan ban hành chuẩn mực. Theo quan điểm này, cần phải tìm kiếm và đánh giá các bằng chứng để đánh giá CSDL đã được nêu bởi nhà quản lý.
Nghĩa là tập trung vào nguyên tắc "tin tưởng nhưng cần được xác minh". Mô hình được Hurtt (2010) phát triển được minh họa qua hình như sau: luan an 13 Hình 1.1: Mô hình của Hurtt (2010) về PS Nguồn: Hurtt (2010) Các mức độ của PS Các công bố trước cho thấy KTV có thái độ hoài nghi hơn các cá nhân ở lĩnh vực khác (Harding và Trotman, 2015; Grenier, 2014) và củng cố bằng chứng thực nghiệm hỗ trợ quan điểm về các mức độ hoài nghi khác nhau. Thuật ngữ thiếu PS thu hút sự quan tâm của phía hội nghề nghiệp, cơ quan quản lý (Harding và Trotman, 2015; Hurtt và cộng sự, 2013; Trompeter và cộng sự, 2013; PCAOB, 2012; CAQ, 2010). Westermann và cộng sự (2014) đề cập đến các mức độ PS và các công bố khác gần đây cũng đề cập rõ ràng đến các cấp độ (Harding và Trotman, 2015; Glover và Prawitt, 2014).
Glover và Prawitt (2014) nhìn nhận các mức độ hoài nghi trong sự liên tục, như được minh họa ở Hình 1. Các nhà học thuật cho rằng cần phải xây dựng tài liệu hướng dẫn để hỗ trợ áp dụng khái niệm liên tục trong mức độ hoài nghi nghề nghiệp trong thực tiễn. Các tác giả đề cập tới quan điểm trung lập phản ánh ý định rằng KTV không thừa nhận bất cứ điều gì (Glover và Prawitt, 2014; Westermann và cộng sự, 2014; Hurtt, 2010), không phải là quan điểm không có sự sai lệch và cách tiếp cận luan an 14 thuần túy khách quan đối với bằng chứng (Quadackers và cộng sự, 2014; Nelson, 2009). Glover và Prawitt (2014) mô tả sự biến thiên liên tục của việc thu thập bằng chứng tương ứng với các mức độ thể hiện PS, được minh họa trong Hình 1.
Theo sự mô tả này, KTV chưa thể có đủ bằng chứng đồng nghĩa với việc thể hiện mức độ PS chưa phù hợp (Beasley và cộng sự, 2001) và sự tin tưởng quá mức đối với khách hàng (Glover và Prawitt, 2014). Theo đó, KTV có PS vừa phải có xu hướng thay đổi các thủ tục kiểm toán khi mức rủi ro cao (Carpenter và Reimers, 2013; Peytcheva, 2014). Tuy nhiên, Peytcheva (2014) nhấn mạnh rằng cần lưu ý rằng việc thu thập đẩy đủ bằng chứng phải đi đôi với việc đánh giá tính thích hợp của bằng chứng (Peytcheva, 2014). Dựa vào các quan điểm đã nêu, giả định rằng các thay đổi liên tục và nằm trên chuỗi biến thiên, từ trung lập đến khá nghi ngờ, giữa các sự cực đoan (tin tưởng và nghi ngờ) đều nhất quán.
Glover và Prawitt (2014) đã đưa chuỗi biến thiên tổng hợp sự biến thiên của mức độ PS theo hình minh họa như sau: Hình 1.2: Các mức độ hoài nghi nghề nghiệp SỰ BIẾN THIÊN CỦA TĐHNNN TIN KHÁ TRUNG LẬP NGHI TƯỞNG NGHI NGỜ NGỜ THÁI ĐỘ LUÔN LUÔN NGHI VẤN NHIỀU BẰNG ÍT BẰNG CHỨNG CHỨNG Nguồn: Glover và Prawitt (2014) luan an 15 Thông quan các quan điểm về PS đề cập, ở chương 2 tác giả sẽ đưa ra các khái niệm tương ứng với các quan điểm đã nêu và lựa chọn hướng tiếp cận cho khái niệm PS ở mục 2. Các nhân tố tác động đến thái độ hoài nghi nghề nghiệp Các về chủ đề này khá rời rạc, và không mang tính hệ thống (Nelson, 2009). Vì vậy, tác giả kế thừa hai công bố dạng tổng hợp mang tính hệ thống về chủ đề các nhân tố tác động đến PS của KTV trước đây. Tác giả kế thừa hai công bố này vì cả hai công bố đều liên quan trực tiếp đến chủ đề và hiện chưa có nghiên cứu khác mang tính tổng hợp.
Hơn nữa, cả hai công bố dạng tổng hợp đều công bố trên tạp chí hạng A* trong lĩnh vực kiểm toán (theo xếp hạng của Hội đồng hiệu trưởng các trường kinh doanh của Úc (ABDC)) và hơn 200 trích dẫn từ các công bố khác. Mô hình của Nelson (2009) phân nhóm nhân tố theo đặc điểm, kiến thức và động cơ.