CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Ở Việt Nam hiện nay trong hầu hết các CTKT, dịch vụ Kiểm toán BCTC hầu như là chủ lực, mang lại doanh thu cao nhất và được thực hiện đều đặn hàng năm. Vấn đề được quan tâm là có những nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng của loại dịch vụ này và ảnh hưởng như thế nào, tác động ra sao. Chương này tác giả sẽ trình bày các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã thực hiện, chia thành 02 nhóm: Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài và các nghiên cứu công bố trong nước. Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài.
[1] Linda Elizabeth DeAngelo (1981): “Audit size and Audit quality”. Nghiên cứu tạm dịch là: “Quy mô Kiểm toán và chất lượng Kiểm toán”. Nghiên cứu này đề cập đến mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp Kiểm toán và CLDV Kiểm toán. Theo DeAngego, để tồn tại và phát triển thì CTKT phải nâng cao CLDV Kiểm toán.
Ông cho rằng CLDV Kiểm toán không độc lập với quy mô doanh nghiệp Kiểm toán, trái với ý kiến của các CTKT nhỏ rằng quy mô của CTKT không ảnh hưởng đến chất lượng Kiểm toán và do đó không có ý nghĩa gì trong việc lựa chọn KTV. Bằng những lập luận chắc chắn, nghiên cứu đã chỉ ra rằng, CTKT nào có số lượng khách hàng càng nhiều (số lượng khách hàng càng nhiều thì quy mô công ty càng lớn) thì càng tăng khả năng phát hiện các sai phạm của KTV. Như vậy, quy mô (số lượng khách hàng) của CTKT càng lớn thì càng bị áp lực kinh tế buộc phải duy trì và nâng cao CLDV Kiểm toán. [2] A Ghosh, D Moon (2005): “Auditor tenure and perceptions of audit quality”.
Nghiên cứu tạm dịch là: “Nhiệm kỳ KTV và nhận thức về Chất lượng Kiểm toán”. Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa nhiệm kỳ Kiểm toán và chất lượng Kiểm toán bằng nhận thức của những người tham gia thị trường vốn, 03 đối tượng tiêu biểu sử dụng BCTC được phân tích là chủ đầu tư, cơ quan đánh giá độc lập và các nhà phân 7 tích tài chính. Mẫu được dùng lấy từ danh sách các công ty giao dịch công khai hàng năm từ năm 1990 đến năm 2000, có hợp đồng Kiểm toán với CTKT kéo dài trong ít nhất 5 năm. Nghiên cứu đã sử dụng các phản hồi thu nhập từ hồi quy thu nhập (như là một dấu hiệu cho nhận thức của nhà đầu tư về chất lượng thu nhập), xếp hạng của báo cáo thu nhập (biểu hiện cho sự nhận thức của cơ quan đánh giá độc lập) và hệ số thu nhập từ hồi quy của các dự báo lợi nhuận đồng thuận trong một năm (biểu hiện cho sự nhận thức của các nhà phân tích tài chính về chất lượng thu nhập).
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệm kỳ Kiểm toán có tác động tích cực đến chất lượng Kiểm toán. Gul và cộng sự (2007): “The Differential Effects of Auditors’ Non-audit and Audit Fees on Accrual Quality”. Nghiên cứu tạm dịch là: “Những ảnh hưởng khác nhau của phí Kiểm toán và phi Kiểm toán trên chất lượng dồn tích”. Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa chi phí Kiểm toán và phi Kiểm toán và chất lượng dồn tích.
Các biến phụ thuộc là mức độ tương đối của phí phi Kiểm toán đối với phí Kiểm toán; Mức độ tuyệt đối của Kiểm toán, phi Kiểm toán với tổng số phí. Mẫu ban đầu được chọn lựa dựa trên cơ sở dữ liệu được biên soạn bởi Standard and Poors trong hai năm 2000 và 2001 có tổng cộng 9.025 công ty, sau 9 lần loại trừ những mẫu không thỏa điều kiện thì còn lại 4.282 mẫu hợp lệ. Kết quả khảo sát là phí phi Kiểm toán có tác động âm đến tính độc lập Kiểm toán khi nhiệm kỳ Kiểm toán ngắn và quy mô công ty khách hàng nhỏ. [4] JH Choi, C Kim, JB Kim, Y Zang (2010): “Audit office size, audit quality, and audit pricing”.
Nghiên cứu được tạm dịch là: Quy mô CTKT, chất lượng Kiểm toán và giá phí Kiểm toán. Nội dung của nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa quy mô công ty với chất lượng Kiểm toán và quy mô công ty với giá phí Kiểm toán. Mẫu nghiên cứu dùng cho cả hai giả thuyết là 963 văn phòng Kiểm toán thuộc 387 CTKT thuộc 50 tiểu bang của Hoa Kỳ trong cơ sở dữ liệu giai đoạn 2000-2005. Bằng các kết quả hồi quy nghiên cứu đã chỉ ra rằng quy mô công ty có liên quan tích cực đến chất 8 lượng Kiểm toán, quy mô công ty càng lớn thì mức độ đảm bảo cung cấp dịch vụ càng cao, có khả năng chống lại áp lực, giảm sai lệch của BCTC, nâng cao chất lượng BCTC và ngược lại.
Tương tự như vậy, quy mô càng lớn thì thu phí Kiểm toán càng cao, phù hợp với quan điểm quy mô càng lớn thì chất lượng càng cao, và khoản phí chênh lệch này được xem như là phí bảo hiểm trong thị trường dịch vụ Kiểm toán. Ngoài ra nghiên cứu còn lưu ý các CTKT lớn như BIG 4 cần chú ý quy mô và CLDV Kiểm toán được cung cấp ở các văn phòng chi nhánh nhỏ. [5] T Svanstrom (2013): “Non-audit services and audit quality: evidence from private firms”. Nghiên cứu được tạm dịch là “Dịch vụ phi Kiểm toán và chất lượng Kiểm toán: bằng chứng từ các công ty tư nhân”.
Mục đích của nghiên cứu này là để kiểm tra mối quan hệ giữa chất lượng Kiểm toán và các dịch vụ phi Kiểm toán trong các công ty tư nhân, một vấn đề hiếm khi được xem xét trong các nghiên cứu trước. Rủi ro đối với tính độc lập của KTV là khác nhau trong các doanh nghiệp tư nhân so với các công ty Nhà nước. Cũng giống như việc sử dụng cùng một kiến thức để Kiểm toán và thực hiện dịch vụ phi Kiểm toán cho cùng một khách hàng. Do đó, hiệu quả của việc cung cấp dịch vụ phi Kiểm toán về chất lượng Kiểm toán cũng có thể là khác nhau.
Các loại dịch vụ phi Kiểm toán được đề cập đến trong nghiên cứu này là tư vấn và hỗ trợ các dịch vụ về Kế toán, thuế, hợp pháp và đầu tư. Mẫu được sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập từ một cuộc điều tra quốc gia quy mô lớn về SMEs năm 2006 ở Thụy Điển, tác giả đã gởi khảo sát đến 900 công ty trong 03 loại kích thước (1- 9 nhân viên, 10-49 nhân viên và 50-224 nhân viên) và 03 vùng địa lý. Kết quả có 420 công ty phản hồi hợp lệ. Kết quả hồi quy cho thấy rằng CLDV phi Kiểm toán có tác động tích cực đến chất lượng Kiểm toán.
[6] Al-Khaddash, Al Nawas, Ramadan (2013): “Factors affecting the quality of Auditing: The Case of Jordanian Commercial Banks”. Nghiên cứu tạm dịch là: Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng Kiểm toán: Trường hợp của các Ngân hàng 9 thương mại ở Jordan. Nghiên cứu xem xét sự tác động lên chất lượng Kiểm toán của 07 nhân tố bao gồm: Hệ thống kiếm soát nội bộ của các ngân hàng, Quy mô CTKT, Giá phí Kiểm toán, Tính độc lập KTV, Danh tiếng CTKT, Mức độ chuyên sâu trong lĩnh vực được Kiểm toán, và Năng lực của KTV ảnh hưởng đến Chất lượng Kiểm toán. Đối tượng khảo sát của nghiên cứu là các KTV đang làm việc cho các CTKT đang thực hiện Kiểm toán cho các ngân hàng tại Jordan và các KTV nội bộ đang làm việc trong các ngân hàng thương mại ở Jordan; Từ đó, nghiên cứu đã đưa ra được các bằng chứng thực nghiệm về mối tương quan tích cực của 04 nhân tố: Năng lực KTV, Danh tiếng CTKT, Giá phí Kiểm toán, và cuối cùng là Mức độ chuyên sâu của KTV.
[7] Do Huu Hai và Ngo Sy Trung (2015): “The Factors Affect the Quality of Financial Statements Audit in Vietnam Businesses”. Nghiên cứu tạm dịch là: các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng Kiểm toán BCTC ở các doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng Kiểm toán BCTC (CLDV Kiểm toán BCTC). Nghiên cứu đưa ra 06 biến: (1) Môi trường pháp lý, (2) Môi trường kinh doanh, (3) Tính độc lập, (4) Trình độ nghề nghiệp, (5) Mệ thống kiểm soát chất lượng của CTKT và (6) Các nhân tố khác.
Bảng khảo sát được gởi đến 200 KTV được gởi trực tiếp hoặc thông qua email từ 2013-2014, nhận về 150 kết quả hợp lệ. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá, kiểm tra Cronbach’s Alpha và mô hình tuyến tính hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ nghề nghiệp là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng Kiểm toán trong việc lập các BCTC của doanh nghiệp và môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, tính độc lập, hệ thống kiểm soát chất lượng của CTKT không ảnh hưởng đến chất lượng Kiểm toán BCTC, từ đó thiết kế các thủ tục Kiểm toán thích hợp phát hiện gian lận và khuyến khích KTV để tăng cường các thủ tục Kiểm toán hiệu quả để phát hiện gian lận trong Kiểm toán BCTC. Các nghiên cứu công bố trong nước.
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đề xuất quan điểm xây dựng cơ chế và giải pháp hoàn thiện cơ chế Kiểm soát chất lượng hoạt động KTĐL tại Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn. Nghiên cứu đã đưa ra các biến ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL: (1) Quy mô CTKT, (2) Mức độ chuyên sâu từng lĩnh vực Kiểm toán, (3) Nhiệm kỳ KTV, (4) Giá phí Kiểm toán, (5) Phạm vi của dịch vụ phi Kiểm toán cung cấp, (6) Phương pháp luận Kiểm toán và tính cách của KTV, (7) Kiểm soát CLDV. Trên cơ sở kết hợp phương pháp định tính và định lượng (chủ yếu là định lượng), mẫu khảo sát được kiểm tra chất lượng là 35 CTKT độc lập khác nhau trong năm 2009. Dựa vào kết quả khảo sát tác giả đã đưa ra kết luận: (1) Các CTKT độc lập tại Việt Nam có quy mô càng lớn, nguồn lực tài chính càng cao thì chỉ số chất lượng Kiểm toán càng cao.
(2) Mức độ chuyên sâu của CTKT và thực hiện việc luân chuyển KTV định kỳ thì luôn đạt được chất lượng Kiểm toán tốt. (3) Việc hạ thấp giá phí Kiểm toán có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng Kiểm toán và phần lớn các CTKT nhỏ do thiếu nguồn lực nên không thể duy trì hoặc thực hiện đều đặn các việc xây dựng hệ thống chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng được hiệu quả; (4) Việc thực hiện kiểm soát chất lượng từ bên trong của các CTKT độc lập tại Việt Nam vẫn còn chưa được quan tâm đúng mức.