Chương 1 trình bày một số nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu được công bố ở nước ngoài và trong nước. Từ đó, tác giả nhận diện và xác định các khe hở nghiên cứu để làm cơ sở chứng minh tính cần thiết khi lựa chọn đề tài nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu được lựa chọn với mục tiêu góp phần hoàn thiện quy trình chấp nhận khách hàng trong kiểm toán BCTC, qua đó nâng cao chất lượng hoạt động KTĐL ở các công ty kiểm toán có quy mô nhỏ và vừa tại Việt Nam. Đây là nghiên cứu đầu tiên ở VN tập trung nghiên cứu nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của quy trình chấp nhận khách hàng bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng.
Bên cạnh đó, nghiên cứu hướng đến xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến quy trình chấp nhận khách hàng và kiểm định sự phù hợp của mô hình tại VN. 12 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ QUI TRÌNH CHẤP NHẬN KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BCTC CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 2.1 Cơ sở lý thuyết và các khái niệm có liên quan 2.1 Chấp nhận khách hàng trong kiểm toán BCTC Theo từ điển tiếng việt, “Chấp nhận” là từ dùng để chỉ sự đồng ý tiếp nhận điều yêu cầu của người khác hoặc chấp nhận các điều kiện của bên đặt hàng. Còn “khách hàng” là từ dùng để chỉ người đến mua hàng. Như vậy, chấp nhận khách hàng là việc bên bán hàng đồng ý bán hoặc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của bên mua hàng.
Theo kết quả nghiên cứu của Asare và các đồng sự (1994) và nghiên cứu của Johnstone and Bedard (2004) trích trong nghiên cứu của Mohamed Drira (2013), quyết định chấp nhận khách hàng trong kiểm toán BCTC bao gồm việc DNKT thu hút khách hàng mong muốn hoặc tiềm năng và quyết định xem có nên nộp thầu để cạnh tranh việc thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính cho những khách hàng có thể quan tâm đến dịch vụ của DNKT. Nếu DNKT thực hiện nộp thầu cạnh tranh hợp đồng kiểm toán và khách hàng tiềm năng đồng ý, một khách hàng được chấp nhận mới được thêm vào danh mục khách hàng của công ty (Simunic and Stein, 1990; Johnstone and Bedard, 2004; dẫn theo Mohamed Drira, 2013). Các khách hàng mới cũng có thể tiếp cận DNKT để cho thấy sự quan tâm của mình trong việc trở thành khách hàng của DNKT. Trong trường hợp này, DNKT thực hiện đánh giá khách hàng tiềm năng và đưa ra quyết định chấp nhận hoặc từ chối khách hàng mới này.
Trong thực tế, quá trình này có thể phức tạp hơn và lặp đi lặp lại vì nó thường đòi hỏi nhiều cuộc thảo luận và các vòng đàm phán (Mohamed Drira, 2013). Quyết định tiếp tục hợp đồng kiểm toán chỉ áp dụng cho khách hàng kiểm toán hiện hành và không áp dụng cho khách hàng mới. Quá trình này bao gồm đánh giá khách hàng hiện hành và quyết định có nên tiếp tục cung cấp dịch vụ kiểm toán cho họ. Tuỳ thuộc vào kết quả đánh giá khách hàng hiện hành, công ty kiểm toán sẽ đưa ra quyết định tiếp tục hợp đồng kiểm toán hay từ chối tiếp tục cung cấp hợp đồng 13 kiểm toán.
Theo đó, quyết định tiếp tục hợp đồng kiểm toán nghĩa là công ty kiểm toán đồng ý thực hiện kiểm toán cho khách hàng vào niên độ tiếp theo. Quyết định từ chối tiếp tục hợp đồng kiểm toán nhằm loại bỏ những khách hàng không mong muốn, bao gồm cả những khách hàng được đánh giá là quá rủi ro hoặc không còn phù hợp với chiến lược của công ty (Johnstone and Bedard, 2004; Shu, 2000; dẫn theo Mohamed Drira, 2013).2 Các quan điểm tiếp cận việc chấp nhận khách hàng trong kiểm toán BCTC Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra các quan điểm về phương pháp tiếp cận mà công ty kiểm toán và KTV sử dụng trong quá trình chấp nhận khách hàng mới và tiếp tục hợp đồng kiểm toán với khách hàng hiện tại: phương pháp tiếp cận khách hàng đơn lẻ (the single client approach), phương pháp tiếp cận khách hàng theo danh mục đầu tư (the client portfolio approach) và phương pháp kết hợp.1 Quan điểm tiếp cận khách hàng đơn lẻ Trong đó, phương pháp tiếp cận khách hàng đơn lẻ cho rằng KTV và công ty kiểm toán chỉ tìm hiểu đặc điểm và đánh giá rủi ro cho một khách hàng riêng biệt. Phương pháp này đã mô hình hóa các quyết định chấp nhận khách hàng như là một quá trình đánh giá rủi ro và thích ứng với rủi ro (Jonhstone, 2000). Trong giai đoạn đánh giá rủi ro, các yếu tố liên quan đến rủi ro kiểm toán, rủi ro kinh doanh của khách hàng và rủi ro kinh doanh của công ty kiểm toán được khám phá, đánh giá và so sánh với lợi nhuận kỳ vọng và yêu cầu của công ty kiểm toán.
Trong đó, theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 200 (2009), rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV đưa ra ý kiến kiểm toán không phù hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn chứa đựng sai sót trọng yếu. Theo nghiên cứu của Huss và Jacobs (1991), trích trong nghiên cứu của Johnstone, K. Rủi ro kinh doanh của công ty kiểm toán là nguy cơ mất mát vì công ty kiểm toán đồng ý thực hiện kiểm toán cho khách hàng ngay cả khi công ty kiểm toán và KTV đã thực hiện đầy đủ thủ tục phù 14 hợp với chuẩn mực kiểm toán chuyên nghiệp hiện tại (ví dụ, kiện tụng, lợi nhuận không đầy đủ, hoặc thiệt hại danh tiếng) (Asare et al., 1994; dẫn theo Johnstone, K. Theo đó, khả năng hiện diện của các yếu tố liên quan đến các rủi ro trên càng cao sẽ càng làm giảm khả năng chấp nhận khách hàng (Johnstone, K.
Tiếp đó là giai đoạn thích ứng với rủi ro, KTV phản ứng với các rủi ro có sai sót và gian lận trong cuộc kiểm toán bằng cách áp dụng các chiến lược như gia tăng sự tham gia của chủ phần hùn/giám đốc kiểm toán và các chuyên gia trong ngành vào cuộc kiểm toán, thực hiện nhiều thủ tục kiểm toán hơn và thực hiện thêm nhiều bước soát xét liên quan đến rủi ro của khách hàng. Kết quả của việc này là sự gia tăng chi phí kiểm toán, Jonstone & Bedard (2001). Điều này có nghĩa là, KTV không phải chỉ chấp nhận khách hàng với rủi ro bằng không, họ đánh giá rủi ro và chấp chận khách hàng có rủi ro kinh doanh nằm trong phạm vi chấp nhận của DNKT (Johnstone, K. Theo nghiên cứu của Mohamed Drira (2013), phương pháp tiếp cận khách riêng lẻ có hạn chế là chỉ đánh giá rủi ro khách hàng trên cơ sở 1 tổ chức/cá nhân riêng biệt mà không nêu lên những ảnh hưởng tiềm tàng của việc chấp nhận khách hàng trên cở sở tổng thể rủi ro của danh mục khách hàng kiểm toán.2 Quan điểm tiếp cận theo danh mục đầu tư Quan điểm tiếp cận theo danh mục đầu tư cho rằng công ty kiểm toán xem xét các hợp đồng kiểm toán giữa công ty kiểm toán và khách hàng như là một danh mục đầu tư mà công ty kiểm toán đang quản lý.
Cách tiếp cận này được giới thiệu hơn hai mươi năm trước đây bởi hai học giả kiểm toán là Simunic và Stein (1990) và được tiếp tục sau đó bởi các nghiên cứu khác. Theo Simunic và Stein (1990), trích trong nghiên cứu của Mohamed Drira (2013), rủi ro của một cuộc kiểm toán được định nghĩa và đo lường trong một bối cảnh danh mục đầu tư bởi vì kết quả của mỗi sự chấp nhận của khách hàng hoặc quyết định việc tiếp tục hợp đồng kiểm toán có ảnh hưởng đến rủi ro tổng thể của danh mục khách hàng của công ty kiểm toán (Huss và Jacobs, 1991; dẫn theo Mohamed Drira, 2013). Tương tự như tối ưu hóa 15 danh mục đầu tư tài chính, do nguồn lực của công ty kiểm toán là có hạn (về nhân lực, thời gian, năng lực…), KTV thực hiện việc chấp nhận khách hàng mới hoặc tiếp tục với khách hàng cũ như là quản lý danh mục đầu tư nhằm tối ưu hoá lợi ích thu được cho công ty kiểm toán với nguồn lực có sẵn. Do đó, mỗi quyết định chấp nhận khách hàng hay tiếp tục hợp đồng kiểm toán phải được xem xét trên phương diện có liên quan chặt chẽ và đóng góp trực tiếp đến hiệu suất tổng thể của các công ty kiểm toán (Mohamed Drira, 2013).
Các chiến lược điều chỉnh khách hàng thường xuyên được sử dụng bởi các công ty kiểm toán là một minh họa tốt nhất cho quan điểm tiếp cận theo danh mục đầu tư. Sự lựa chọn khách hàng thích hợp phụ thuộc vào một số yếu tố liên quan chủ yếu đến các công ty kiểm toán bao gồm: cơ cấu của công ty kiểm toán và các chi phí khác cũng như các thiết lập về khách hàng tiềm năng của nó. Qua thời gian, khách hàng mục tiêu của các công ty kiểm toán có thể thay đổi do sự thay đổi trong đặc trưng của doanh nghiệp và/hoặc các đặc điểm của khách hàng, và việc tiếp tục công việc kiểm toán cho các khách hàng đó sẽ không mang lợi lợi nhuận như yêu cầu của DNKT. Do đó, các công ty kiểm toán sẽ quan tâm trong việc điều chỉnh các khách hàng trong danh mục đầu tư của mình bằng cách kết thúc kiểm toán cho các khách hàng hiện tại không còn phù hợp với mục tiêu công ty kiểm toán.
Nguyên nhân gây nên sự không phù hợp của khách hàng thường bắt nguồn từ thay đổi trong đặc điểm của KTV, đặc biệt là cơ cấu chi phí của KTV(Shu, 2000, trích trong Mohamed Drira, 2013). Quan điểm tiếp cận theo danh mục đầu tư cung cấp một khung tích hợp trong đó ba quyết định chấp nhận, tiếp tục, và từ chối khách hàng có mối quan hệ với nhau vì mỗi quyết định ảnh hưởng đến các thành phần của danh mục khách hàng mà công ty kiểm toán đang quản lý. Tuy nhiên, theo Jonhstone và Bedard (2004), trích trong Mohamed Drira (2013), việc chuyển giao vô điều kiện của lý thuyết danh mục đầu tư, từ tài chính đến kiểm toán sẽ gặp trở ngại với một số khó khăn như sau: 16 Các thành phần (khách hàng) trong danh mục đầu tư của công ty kiểm toán là kết quả của quyết định ở cả hai phía công ty kiểm toán và khách hàng. Ngược lại, thành phần của danh mục đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư là kết quả của các quyết định đầu tư đơn phương của nhà đầu tư.