Chương 1 trình bày về một số các nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu được công bố ở ngoài nước và trong nước. Từ đó, xác định các khe hở nghiên cứu để làm cơ sở chứng minh tính cần thiết khi lựa chọn đề tài nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu được lựa chọn với mục tiêu góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại VN. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại VN tập trung nghiên cứu nhiều nhân tố ảnh hưởng đến CLKT bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng.
Bên cạnh đó, nghiên cứu hướng đến xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT và kiểm định sự phù hợp của mô hình tại VN. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm chất lƣợng Chất lượng được xem là chìa khóa quyết định cho sự sống còn của các tổ chức trong nền kinh tế toàn cầu (Mohammad M.R và cộng sự, 2011). Vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu nỗ lực trong việc đưa ra định nghĩa và đo lường chất lượng. Chất lượng là một khái niệm phức tạp, phụ thuộc vào trình độ của nền kinh tế và tùy vào góc độ của người quan sát hay người sử dụng.
Sau đây là một số định nghĩa về chất lượng theo quan điểm của các tổ chức và nhà nghiên cứu khác nhau: (1)”Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng” (Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu - EQC). (2) “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” (Philip B. Crosby, theo Tạp chí Quality Progress, 2011). (3) "Chất lượng là tập hợp tất cả đặc tính của sản phẩm và dịch vụ từ tiếp cận thị trường, kỹ thuật, sản xuất và bảo hành mà thông qua đó sản phẩm và dịch vụ được sử dụng sẽ đáp ứng được mong đợi của khách hàng” (Armand V.
Feigenbaum, theo Tạp chí Quality Progress, 2011). (5) “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu". 11 Từ những định nghĩa về chất lượng được nêu ở trên cho thấy hầu hết các định nghĩa đều gắn chất lượng với sự thỏa mãn nhu cầu của thị trường (người tiêu dùng hoặc các quy định pháp lý) bằng những đặc tính vốn có của sản phẩm hoặc dịch vụ. Bởi khi thỏa mãn được thị trường thì DN không những giữ được người tiêu dùng, mà còn thu hút được các đối tượng tiêu dùng mới, từ đó mang lại lợi nhuận, nâng cao uy tín và ngày càng phát triển.
Ngoài ra, chất lượng ở đây không chỉ là của sản phẩm hay dịch vụ mà còn có thể là chất lượng của một hệ thống, một quy trình. Tóm lại, chất lượng có thể được định nghĩa là mức độ tập hợp tất cả các đặc tính vốn có của sản phẩm và dịch vụ từ tiếp cận thị trường, kỹ thuật, sản xuất và bảo hành mà thông qua đó sản phẩm và dịch vụ được sử dụng sẽ đáp ứng được những yêu cầu trong những điều kiện xác định. Theo đó, có ba nội dung cơ bản khi xem xét yếu tố chất lượng của sản phẩm và dịch vụ: Thứ nhất, trên quan niệm xuất phát từ bản thân sản phẩm/dịch vụ: chất lượng được phản ánh qua tất cả các đặc tính vốn có, thể hiện tính năng kỹ thuật hay tính hữu dụng của sản phẩm/dịch vụ đó, làm cho sản phẩm/dịch vụ này khác biệt với các sản phẩm/dịch vụ khác; Thứ hai, trên quan niệm của các nhà sản xuất: chất lượng là sự phù hợp của một sản phẩm/dịch vụ với các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình sản xuất và bảo hành được xác định dựa trên thị trường; Cuối cùng, trên quan niệm từ người tiêu dùng: chất lượng là đáp ứng được những yêu cầu của người tiêu dùng (sự hoàn thiện của sản phẩm, giá cả, sự kịp thời…) trong những điều kiện tiêu dùng cụ thể của từng người, từng khu vực khác nhau.2 Khái niệm về chất lƣợng hoạt động kiểm toán độc lập Hoạt động KTĐL đã có lịch sử phát triển lâu dài và gắn liền với quá trình phát triển kinh tế. Dịch vụ kiểm toán là loại hình dịch vụ đặc thù, mang tính chuyên môn 12 cao.
Do vậy, khác với dịch vụ của các nghề nghiệp khác, chất lượng của dịch vụ KTĐL không dễ dàng quan sát hay kiểm tra, đánh giá. Chất lượng kiểm toán, về bản chất, là một khái niệm phức tạp và đa dạng (IAASB, 2011). Vì vậy, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã nỗ lực trong việc đưa ra một định nghĩa rõ ràng về CLKT. Tuy nhiên, tùy thuộc vào góc nhìn của từng đối tượng khác nhau, từng mục đích sử dụng kết quả kiểm toán khác nhau mà nhận thức về CLKT cũng khác nhau.
Dưới đây là một số định nghĩa CLKT dưới các góc nhìn khác nhau: 2.1 Chất lƣợng kiểm toán dƣới góc nhìn của khách hàng Dưới góc nhìn của khách hàng, hoạt động kiểm toán là một dịch vụ được cung cấp bởi DNKT. Do đó, chất lượng dịch vụ được đánh giá dựa trên sự thỏa mãn của khách hàng. Theo Parasuraman và cộng sự (1985), cần dựa vào năm yếu tố để đánh giá chất lượng dịch vụ (thang đo sử dụng là SERVQUAL) bao gồm: (1) Sự tin cậy (Reliability): khả năng cung ứng dịch vụ đúng như đã hứa với khách hàng. (2) Sự đáp ứng (Responsiveness): sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên trong việc cung ứng dịch vụ nhanh chóng.
(3) Năng lực phục vụ (Assurance): thể hiện qua trình độ chuyên môn và thái độ lịch sự, niềm nở với khách hàng. (4) Sự đồng cảm (Empathy): sự phục vụ chu đáo, sự quan tâm đặc biệt đối với khách hàng và khả năng am hiểu những nhu cầu riêng biệt của khách hàng (5) Yếu tố hữu hình (Tangibles): các phương tiện vật chất, trang thiết bị, tài liệu quảng cáo… và bề ngoài của nhân viên bán hàng. Lehtinen và Lehtinen (1982) lại cho rằng chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả dịch vụ. Theo Watts & Zimmerman (1983) và DeAngelo (1981) thì CLKT dưới góc độ khách hàng là xác suất KTV (1) phát hiện ra các sai sót trọng yếu trên BCTC (khả năng kỹ thuật); và (2) báo cáo các sai sót này với nhà quản lý (tính độc lập).
Li Dang (2004) lại cho rằng CLKT là xác suất mà BCTC không chứa sai sót trọng yếu. CLKT theo CMKiT VN số 220 “KSCL hoạt động kiểm toán” ban hành theo quyết định số 28/2003/QĐ-BTC ngày 14/03/2003 (có hiệu lực thi hành từ 01/04/2003) là “mức độ thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của KTV; đồng thời thoả mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của KTV, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý”. Tóm lại, CLKT dưới góc nhìn của khách hàng là mức độ thỏa mãn về các lợi ích mà khách hàng nhận được thông qua dịch vụ kiểm toán mà họ được cung cấp.2 Chất lƣợng kiểm toán dƣới góc nhìn của DNKT Dưới góc nhìn của DNKT, dịch vụ kiểm toán là một hoạt động kinh doanh, đem lại lợi nhuận cho DN. Tuy nhiên, dịch vụ kiểm toán là một loại hình dịch vụ đặc thù, với đặc điểm nghề nghiệp luôn coi trọng trách nhiệm đối với xã hội, bên cạnh trình độ chuyên môn, tiêu chuẩn hành nghề và niềm tin của công chúng.
Ngoài ra, DNKT là người cung cấp dịch vụ, nên chất lượng dưới góc độ nhà cung cấp là chất lượng mang tính chủ quan. Chất lượng này không bị quyết định bởi kỳ vọng của khách hàng mà được xác định bởi DNKT. Các DNKT thường xây 14 dựng một quy trình kiểm toán và KSCL nhằm giúp KTV có thể đưa ra ý kiến trung thực và hợp lý. Như vậy, một cuộc kiểm toán có chất lượng là khi KTV và DNKT tuân thủ đầy đủ chuẩn mực chuyên môn, tuân thủ các quy trình, các thủ tục do DNKT thiết lập (Trần Thị Giang Tân, 2011).
Bên cạnh đó, mục tiêu lợi nhuận cũng cần được cân đối với chi phí bỏ ra bởi lợi nhuận là mục tiêu chính của hoạt động kinh doanh. Như vậy, CLKT dưới góc nhìn của DNKT là đáp ứng được những yêu cầu, qui định theo chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, CMKiT và các qui định của pháp luật có liên quan. Bên cạnh đó, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong sự cân đối giữa lợi ích và chi phí để mang lại lợi nhuận cho công ty.3 Chất lƣợng kiểm toán dƣới góc nhìn của ngƣời sử dụng BCKT (nhà đầu tƣ, đối tác, hội nghề nghiệp, công chúng…) Đối tượng sử dụng BCKT có thể chia thành hai nhóm chính là (1) nhóm có mối liên hệ trực tiếp như chủ sở hữu, cổ đông, trái chủ, nhà đầu tư, người cho vay, các chủ nợ khác và (2) nhóm có mối liên hệ gián tiếp như xã hội, hội nghề nghiệp, công chúng. Mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp về lợi ích hoặc rủi ro kinh tế này đã ảnh hưởng đến nhận thức của từng nhóm về CLKT, cụ thể như sau: (1) Chủ sở hữu, cổ đông, trái chủ, nhà đầu tư, người cho vay, các chủ nợ khác Chủ sở hữu, cổ đông, trái chủ, nhà đầu tư, người cho vay và các chủ nợ khác là đối tượng chính sử dụng kết quả kiểm toán để ra các quyết định kinh doanh.
Vì vậy, BCKT có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích hoặc rủi ro kinh tế của các đối tượng này. Phần lớn các nghiên cứu chỉ ra rằng những người sử dụng đều kỳ vọng vượt quá những gì mà KTV tin rằng đó là trách nhiệm của họ về việc (Porter, 1993; Baron và cộng sự, 1977) (theo nghiên cứu của Mahdi Salehi, 2011): - đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của BCTC; - đưa ra ý kiến về khả năng hoạt động liên tục của công ty; - đưa ra ý kiến về hệ thống KSNB của công ty; 15 - đưa ra ý kiến về gian lận phát sinh; - đưa ra ý kiến về các hành vi không tuân thủ; Sự kỳ vọng không hợp lý trên dẫn đến nhưng yêu cầu thiếu thực tế của họ về chất lượng dịch vụ của nghề nghiệp kiểm toán. Theo Hội đồng giám sát kế toán các công ty đại chúng Mỹ (PCAOB), CLKT dưới góc nhìn của nhà đầu tư là nhu cầu về tính độc lập và đáng tin cậy của kiểm toán về (1) BCTC và những thuyết minh liên quan; (2) đảm bảo về hệ thống KSNB và (3) cảnh báo về khả năng hoạt động liên tục.