Tổng quan luận án
Tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính (BCTC) là cơ sở quan trọng phục vụ quyết định kinh tế của các bên liên quan. Tuy nhiên, chất lượng thông tin BCTC chịu sự chi phối từ nhiều yếu tố, đòi hỏi kiểm toán viên (KiTV) phải có năng lực chuyên môn và duy trì tính độc lập để bảo đảm tính khách quan, nâng cao chất lượng kiểm toán (CLKiT) theo quan điểm của Mautz & Sharaf (1961). Vấn đề tính độc lập của kiểm toán viên (TĐLKiTV) trở thành tiêu điểm trên thế giới sau hàng loạt vụ sụp đổ tài chính lớn như vụ Polly Peck tại Anh (1991) liên quan đến BDO Stoy Hayward và Erdal & Co, vụ Tập đoàn Enron tại Hoa Kỳ (2001) liên quan đến Arthur Andersen, vụ Công ty ComRoad AG tại Đức (2002) do KPMG kiểm toán, hay vụ Công ty Satyam Computer Services Ltd tại Ấn Độ (2009) do PwC India kiểm toán. Theo Siddhartha Sankar Saha (2018), nguyên nhân sâu xa của các sự cố này xuất phát từ việc vi phạm tính độc lập và suy giảm niềm tin của công chúng vào báo cáo kiểm toán (BCKiT).
Tại Việt Nam, ngành kiểm toán độc lập (KiTĐL) hình thành từ năm 1991 với 2 doanh nghiệp ban đầu. Tính đến ngày 31/12/2017, toàn hệ thống có 166 doanh nghiệp kiểm toán (DNKiT), 11.056 nhân viên chuyên nghiệp và 1.948 KiTV hành nghề. Mặc dù khung pháp lý và chuẩn mực nghề nghiệp đã từng bước hoàn thiện, kết quả kiểm tra chất lượng định kỳ của Vụ Chế độ Kế toán - Bộ Tài chính, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) ghi nhận nhiều sai phạm về hành nghề và TĐLKiTV. Riêng năm 2017, có 7 DNKiT không đạt yêu cầu chất lượng, 11 DNKiT và 57 KiTV bị xử phạt vi phạm hành chính. Mặc dù vậy, các nghiên cứu thực nghiệm trong nước về TĐLKiTV còn hạn chế về quy mô mẫu và chưa tiếp cận một cách toàn diện. Do đó, luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán của tác giả Lê Đoàn Minh Đức (2019) tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là khám phá và đo lường các nhân tố tác động đến TĐLKiTV trong kiểm toán báo cáo tài chính (KiTBCTC) tại Việt Nam. Hai mục tiêu cụ thể gồm:
- Mục tiêu thứ nhất: Xác định mô hình lý thuyết các nhân tố tác động đến TĐLKiTV trong KiTBCTC.
- Mục tiêu thứ hai: Kiểm định và đo lường sự tương quan giữa các nhân tố tác động và TĐLKiTV trong KiTBCTC tại Việt Nam.
Luận án giải quyết 2 câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1 (Q1): Các nhân tố nào tác động đến TĐLKiTV trong KiTBCTC theo hướng tiếp cận kết hợp giữa chủ thể và khuôn mẫu?
- Câu hỏi 2 (Q2): Mối quan hệ và mức độ tác động của các nhân tố đến TĐLKiTV trong KiTBCTC tại Việt Nam?
Đối tượng nghiên cứu là tính độc lập của các cá nhân tham gia vào quy trình KiTBCTC (KiTV độc lập, giám đốc kiểm toán, trợ lý kiểm toán tại các DNKiT). Đồng thời, tác giả khảo sát cảm nhận của các bên liên quan gồm kế toán trưởng doanh nghiệp khách hàng và cán bộ tín dụng ngân hàng.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Phạm vi không gian: Khảo sát tập trung tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và tỉnh Bình Dương. Theo số liệu của VACPA (2018), cả nước có 169 DNKiT, phân bổ chủ yếu tại miền Nam (76 doanh nghiệp, riêng TP. Hồ Chí Minh 73 DN, Bình Dương 2 DN, Đồng Nai 1 DN), miền Bắc (85 doanh nghiệp, riêng Hà Nội 83 DN) và miền Trung (8 DN). Địa bàn khảo sát mang tính đại diện cao cho thị trường kiểm toán Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp phản ánh thực trạng TĐLKiTV được thu thập từ công bố của VACPA và UBCKNN giai đoạn 2012–2018. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và khảo sát bảng hỏi trong giai đoạn 2017–2018.
- Phạm vi nội dung: Luận án giới hạn nghiên cứu trong dịch vụ KiTBCTC, là dịch vụ bảo đảm chủ yếu và gắn liền với lợi ích công chúng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan nghiên cứu quốc tế về TĐLKiTV được tác giả hệ thống hóa qua 93 công trình tiêu biểu trong 30 năm, chia thành 3 hướng chính:
- Nghiên cứu cấu trúc TĐLKiTV: Xem xét TĐLKiTV là quan điểm không thiên vị khi thực hiện kiểm toán và phát hành BCKiT (Rich Hayes và cộng sự, 2004) hoặc khả năng duy trì sự khách quan, chính trực (Bahram Soltani, 2007). Pat Sucher & Katarzyna Kosmala-MacLullich (2004) làm rõ cấu trúc TĐLKiTV trong bối cảnh các nước CEE chịu áp lực kinh tế - xã hội. Mohammad Hudaib & Roszaini Haniffa (2009) phân tích tính độc lập tại Ả Rập qua 3 cấp độ: vi mô (cá nhân KiTV), trung gian (văn hóa tổ chức DNKiT) và vĩ mô (chính trị, pháp luật, kinh tế - xã hội).
- Nghiên cứu TĐLKiTV ảnh hưởng đến CLKiT: Khẳng định tính độc lập là thành phần nền tảng của CLKiT (DeAngelo, 1981a; Previts & Merino, 1998; Emmanuel Austin & Siriyama Kanthi Herath, 2014). Tepalagul & Lin (2015) tổng kết các bài báo trên 9 tạp chí kế toán hàng đầu giai đoạn 1973–2013 và chỉ ra 4 nhân tố tác động mạnh: tầm quan trọng của khách hàng, dịch vụ phi kiểm toán (DVPKiT), nhiệm kỳ kiểm toán và mối quan hệ quen thuộc.
- Nghiên cứu các nhân tố tác động trực tiếp đến TĐLKiTV: Được tiếp cận qua 4 hướng:
- Tiếp cận kinh tế: DeAngelo (1981a), Marshall A. Geiger;
- Tiếp cận hành vi: Goldman & Barlev (1974);
- Tiếp cận rủi ro: Johnstone và cộng sự (2001), Turner và cộng sự (2002);
- Tiếp cận theo khuôn mẫu đạo đức nghề nghiệp: Beattie & Fearnley (1999), Nur Barizah Abu Bakar và cộng sự (2005), Alleyne và cộng sự (2006).
| STT |
Nhóm nhân tố |
Chi tiết các nhân tố điểm lại từ tài liệu |
Hướng tác động ghi nhận |
Tác giả tiêu biểu trong tổng quan |
| 1 |
Dịch vụ phi kiểm toán (DVPKiT) |
Tư vấn quản lý, thiết kế hệ thống, tư vấn thuế, hỗ trợ kiện tụng; Mức phí DVPKiT |
Trái chiều (#) |
Tác động âm: Shockley (1981), Pany & Reckers (1988), Dahlia Robinson (2008), Haynes và cộng sự (1998), Francis & Bin Ke (2006), Jenkins & Lowe (2011), Blay & Geiger (2013), Titus và cộng sự (2014), Liempd và cộng sự (2019). Không tác động: Dopuch & King (1991), Ratzinger-Sakel (2013), DeFond và cộng sự (2002), Ashbaugh và cộng sự (2003), Ghosh (2009), Callaghan và cộng sự (2009). |
| 2 |
Quan hệ KiTV - khách hàng |
Tiếp xúc nhân sự cấp cao, khách hàng mời KiTV làm việc tương lai, cựu nhân sự DNKiT làm việc tại khách hàng |
Trái chiều (#) |
Tác động âm: Ping Ye và cộng sự (2011), Quick & Warming-Rasmussen (2015), Eugene (1978), Lennox & Clear Water Bay (2005), Geiger và cộng sự (2005). Không tác động: Mautz & Sharaf (1961). Vai trò UBKiT độc lập: Lennox & Park (2007). |
| 3 |
Nhiệm kỳ kiểm toán |
Nhiệm kỳ DNKiT, nhiệm kỳ giám đốc kiểm toán, luân chuyển kiểm toán, thời gian tạm ngưng kiểm toán |
Trái chiều (#) |
Tác động âm: Bakar và cộng sự (2005), Gul và cộng sự (2007), Raghunandan (2002), Carcello & Nagy (2004), Bamber & Iyer (2007), Garcia-Blandon & Argiles (2015), Daugherty và cộng sự (2012). Không tác động: Shockley (1981), Ruiz-Barbadillo và cộng sự (2009), Wang & Hay (2013), Knechel & Vanstraelen (2007). |
| 4 |
Phí kiểm toán & sự phụ thuộc kinh tế |
Phí bất thường (quá thấp hoặc quá cao), tỷ trọng doanh thu khách hàng, quy mô Big N vs Non-Big N |
Trái chiều (#) |
Tác động âm: DeAngelo (1981), Choi và cộng sự (2010), Chung & Kallapur (2003), Kanagaretnam và cộng sự (2010), Asthana & Boone (2012), Chepkorir (2013), Gaver & Paterson (2007), Hunt & Lulseged (2007), Chi và cộng sự (2012). Không tác động: Magee & Tseng (1990), Reynolds & Francis (2001), Craswell và cộng sự (2001), Chan Li (2009). |
| 5 |
Môi trường cạnh tranh |
Mức độ cạnh tranh trên thị trường kiểm toán |
Tiêu cực (-) |
Shockley (1981), Yamani (1991), Bakar và cộng sự (2005), Titus và cộng sự (2014). |
| 6 |
Quy mô & Danh tiếng DNKiT |
Quy mô DNKiT, quy mô chi nhánh/văn phòng đại diện, vị thế danh tiếng |
Tích cực (+) |
Randolph A. Shockley (1981), Yamani (1991), Chepkorir (2013), Omri & Akrimi (2015). |
| 7 |
Môi trường pháp lý |
Thay đổi quy định, rủi ro kiện tụng/xử phạt, giám sát của hội nghề nghiệp |
Trái chiều (#) |
Hope & Langli (2010). |
| 8 |
Đặc tính cá nhân KiTV |
Tính vị lợi, đạo đức; Giới tính, độ tuổi, thâm niên; Học tập, đào tạo và kỹ năng chuyên sâu theo ngành |
Trái chiều (#) |
Armstrong & Owsen (2003), Ge & Thomas (2008), Cohen và cộng sự (1996), Modarres và cộng sự (2011), Franke và cộng sự (1997), Deshpande (1997), Peterson và cộng sự (2001), Weeks và cộng sự (1999), Larkin (2000), Umar & Anandarajan (2004), Arens & Loebbecke (2002), Gul và cộng sự (2009). |
| 9 |
Quản trị công ty kiểm toán |
Kiểm soát chất lượng nội bộ, triết lý quản lý, quy trình soát xét BCKiT |
Tích cực (+) |
Cadbury (1992), OECD (1999), La Rosa và cộng sự (2018), Ramadhani và cộng sự (2017). |
Tại Việt Nam, các nghiên cứu tiêu biểu gồm: Giang Thị Xuyến (2010) phân tích các nguy cơ làm suy giảm tính độc lập trong kiểm toán nhà nước (tư lợi, tự kiểm tra, tự bào chữa, ruột thịt, bị đe dọa); Nguyễn Thị Phương Hồng & Hà Hoàng Nhân (2015) khảo sát quan điểm của KiTV, kế toán viên và người sử dụng BCTC về 8 nhân tố ảnh hưởng TĐLKiTV; Thành Đức (2018) nhấn mạnh vai trò quản lý nhà nước và hiệp hội nghề nghiệp trong duy trì TĐLKiTV.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Các công trình trước đây tại Việt Nam có quy mô mẫu nhỏ, phạm vi hẹp và chưa kết hợp đồng thời giữa đặc tính chủ thể KiTV với khuôn mẫu đạo đức nghề nghiệp và bối cảnh thể chế - hội nhập. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng mô hình toàn diện, tiếp cận đa chiều từ cấp độ cá nhân, tổ chức DNKiT đến môi trường thể chế vĩ mô.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm nghiên cứu
Luận án kế thừa định nghĩa kiểm toán của Alvin A. Arens và cộng sự (1997), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (1973) và Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế ISA 200 (IAASB, 2015) / VSA 200 (Bộ Tài chính ban hành). Khái niệm TĐLKiTV được xác định theo khuôn mẫu của IESBA (2016) và Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Việt Nam (Bộ Tài chính, 2015), bao gồm:
- Độc lập về tư tưởng: Trạng thái tinh thần cho phép đưa ra kết luận không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chi phối xét đoán chuyên môn, giữ vững tính chính trực, khách quan và thái độ hoài nghi nghề nghiệp.
- Độc lập về hình thức: Việc tránh các sự kiện, hoàn cảnh khiến bên thứ ba có đầy đủ thông tin hợp lý kết luận rằng tính chính trực, khách quan hay hoài nghi nghề nghiệp của DNKiT hoặc nhóm kiểm toán bị tổn hại.
Luận án vận dụng 3 nhóm lý thuyết nền tảng:
- Nhóm lý thuyết về nhận thức, động cơ và hành vi cá nhân KiTV:
- Lý thuyết hành vi cá nhân trong tổ chức (Steven Lattimore McShane & Von Glinow, 2003, 2017): Giải thích quá trình từ nhận thức, thái độ dẫn đến hành vi của KiTV chịu sự tác động đồng thời của đặc tính tiểu sử cá nhân và môi trường tổ chức DNKiT.
- Lý thuyết vị lợi (Epicurus, Jeremy Bentham, John Stuart Mill): Giải thích mối quan hệ giữa tính vị lợi, tính ích kỷ, sự tự bào chữa với TĐLKiTV.
- Lý thuyết vai trò xã hội (Franke và cộng sự, 1997): Giải thích sự khác biệt tiềm tàng về nhận thức đạo đức theo giới tính.
- Lý thuyết chức năng (Huffman, 1988; Donald Light và cộng sự, 1989): Giải thích ảnh hưởng của niềm tin tôn giáo đối với các chuẩn mực giá trị và hành vi cá nhân.
- Nhóm lý thuyết về môi trường DNKiT:
- Lý thuyết ủy nhiệm / đại diện (Spence & Zeckhauser, 1971; Stephen A. Ross, 1973; DeAngelo, 1981a; Palmrose, 1988; Bradshaw và cộng sự, 2001): Giải thích sự bất cân xứng thông tin giữa chủ sở hữu và nhà quản lý, qua đó xác lập nhu cầu độc lập của KiTV nhằm bảo đảm độ tin cậy của BCTC.
- Lý thuyết hợp quy và lý thuyết nguồn lực: Giải thích sự thích ứng của DNKiT với các tiêu chuẩn chuẩn mực và năng lực tổ chức.
- Nhóm lý thuyết về thể chế, phát triển và hội nhập quốc tế:
- Lý thuyết thể chế và lý thuyết lợi ích xã hội: Giải thích tác động của môi trường pháp lý, giám sát của cơ quan nhà nước, hiệp hội nghề nghiệp và quá trình hội nhập quốc tế đến việc tuân thủ tính độc lập.
| Cách đo lường TĐLKiTV trong nghiên cứu thực nghiệm |
Ý nghĩa học thuật |
Công trình tiêu biểu |
| Xu hướng phát hành ý kiến chấp nhận hoạt động liên tục |
Đo lường tính độc lập thông qua việc KiTV không ngần ngại phát hành ý kiến nghi ngờ tính hoạt động liên tục |
Lennox (1999), Mark L. DeFond và cộng sự (2002) |
| Sự trình bày lại thu nhập |
Chênh lệch trọng yếu phải điều chỉnh lại kỳ trước phản ánh tính độc lập và năng lực phát hiện sai sót của KiTV |
Jaime J. Schmidt (2012), Raghunandan và cộng sự (2001) |
| Các khoản dồn tích bất thường |
Đánh giá việc KiTV không chấp nhận các thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận của ban quản lý |
DeFond & Jiambalvo (1994), Becker và cộng sự (1998), Francis và cộng sự (1999) |
| Xét đoán của KiTV |
Đánh giá tính khách quan và không thiên vị trong các tình huống thực nghiệm |
Damai Nasution (2013), Windsor & Ashkanasy (1995), Goodwin & Trotman (1995), Lord & DeZoort (2001) |
| Cảm nhận / nhận thức của người sử dụng |
Đánh giá mức độ tin cậy vào tính độc lập thông qua khảo sát các bên liên quan |
Firth (1980), Randolph A. Shockley (1981), Knapp (1985), McKinley, Pany & Reckers (1985) |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp tuần tự kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Thu thập thông tin thông qua phỏng vấn sâu chuyên gia và thảo luận nhóm chuyên gia (danh sách và biên bản thể hiện tại Phụ lục 2, 3, 4) nhằm khám phá, điều chỉnh, bổ sung các nhân tố và hiệu chỉnh thang đo cho phù hợp với môi trường Việt Nam.
- Nghiên cứu định lượng: Sử dụng bảng câu hỏi khảo sát để thu thập dữ liệu sơ cấp từ các nhóm đối tượng. Quy trình phân tích số liệu thực hiện qua các bước:
- Thống kê mô tả đặc điểm mẫu khảo sát (độ tuổi, giới tính, kinh nghiệm làm việc, trình độ chuyên môn, mức thu nhập);
- Đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha;
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho biến độc lập và biến phụ thuộc;
- Phân tích tương quan Pearson;
- Phân tích hồi quy đa biến theo phương pháp Enter;
- Kiểm tra các giả định hồi quy qua biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa Histogram, Normal P-P Plot và Scatter Plot;
- Kiểm định ANOVA so sánh sự khác biệt trong cảm nhận giữa các nhóm đối tượng khảo sát.
Nguồn tư liệu: Dữ liệu sơ cấp từ mẫu khảo sát tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương giai đoạn 2017–2018; dữ liệu thứ cấp từ báo cáo quản lý, kiểm tra chất lượng của VACPA và UBCKNN giai đoạn 2012–2018.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến TĐLKiTV. Tác giả phân tích 93 công trình quốc tế tiêu biểu trong 30 năm theo 3 nhánh chủ đề chính và 4 hướng tiếp cận lý thuyết (kinh tế, hành vi, rủi ro, khuôn mẫu đạo đức). Chương này phân tích chi tiết tác động của từng nhóm nhân tố: DVPKiT, quan hệ KiTV - khách hàng, nhiệm kỳ kiểm toán, giá phí kiểm toán, sự phụ thuộc kinh tế, môi trường cạnh tranh, quy mô và danh tiếng DNKiT, môi trường pháp lý, đặc tính cá nhân KiTV và quản trị công ty kiểm toán. Tác giả tổng thuật các nghiên cứu trong nước của Giang Thị Xuyến (2010), Nguyễn Thị Phương Hồng & Hà Hoàng Nhân (2015), Thành Đức (2018), từ đó đánh giá ưu điểm, hạn chế của các công trình trước và xác định khoảng trống nghiên cứu làm tiền đề cho việc xây dựng mô hình toàn diện tại Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về TĐLKiTV
Chương 2 trình bày bản thể luận và nhận thức luận về TĐLKiTV. Tác giả làm rõ khái niệm, đặc điểm của dịch vụ kiểm toán và bản chất của TĐLKiTV (gồm độc lập tư tưởng và độc lập hình thức) dựa trên các chuẩn mực quốc tế của IFAC, IESBA (2016) và quy định pháp lý của Bộ Tài chính Việt Nam (2015). Chương này phân tích chi tiết 5 nguy cơ đe dọa tính độc lập (tự lợi, tự kiểm tra, quan hệ ruột thịt, tự bào chữa, bị đe dọa). Đồng thời, tác giả luận giải 3 nhóm lý thuyết nền tảng giải thích cơ chế tác động đến TĐLKiTV: nhóm lý thuyết hành vi, vị lợi, vai trò xã hội và chức năng (giải thích cấp độ cá nhân); nhóm lý thuyết đại diện/ủy nhiệm, hợp quy, nguồn lực (giải thích cấp độ DNKiT); nhóm lý thuyết thể chế và lợi ích xã hội (giải thích cấp độ vĩ mô). Chương 2 cũng tổng kết các phương pháp đo lường TĐLKiTV trong nghiên cứu thực nghiệm.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 thiết lập khung nghiên cứu, mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết tương ứng cho 3 nhóm nhân tố: đặc tính cá nhân KiTV, môi trường DNKiT và thể chế - hội nhập. Tác giả trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu hỗn hợp tuần tự:
- Thiết kế nghiên cứu định tính: Phương pháp phỏng vấn chuyên gia, thảo luận nhóm, nguồn số liệu chuyên gia nhằm điều chỉnh mô hình lý thuyết và hoàn thiện hệ thống thang đo;
- Thiết kế nghiên cứu định lượng: Xây dựng thang đo biến độc lập và biến phụ thuộc, chương trình kiểm định, công cụ phân tích SPSS, quy trình chọn mẫu tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, phương pháp thu thập dữ liệu thực tế và mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp Enter.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 4 cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng ngành KiTĐL Việt Nam giai đoạn 2012–2018 dựa trên dữ liệu thứ cấp của VACPA và UBCKNN, phản ánh số lượng DNKiT, nhân viên chuyên nghiệp, KiTV hành nghề, kết quả kiểm tra chất lượng và các vi phạm hành chính về tính độc lập. Tiếp đó, chương này trình bày kết quả nghiên cứu định tính, xác nhận và bổ sung các nhân tố mới. Kết quả nghiên cứu định lượng được phân tích chi tiết qua: thống kê mô tả mẫu khảo sát, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan Pearson, kết quả phân tích hồi quy theo phương pháp Enter, bảng phân tích phương sai ANOVA, kiểm tra hiện tượng vi phạm giả định hồi quy qua biểu đồ Histogram, Normal P-P Plot, Scatter Plot và kiểm định ANOVA so sánh quan điểm giữa các nhóm đối tượng khảo sát. Từ đó, tác giả bàn luận về chiều hướng, mức độ và thứ tự tác động của các nhân tố đến TĐLKiTV.
Chương 5: Kết luận và hàm ý
Chương 5 tổng hợp các kết luận rút ra từ toàn bộ công trình và đề xuất các hàm ý quản trị, chính sách theo từng nhóm nhân tố tác động:
- Nhóm nhân tố đặc tính cá nhân KiTV: Nâng cao đạo đức nghề nghiệp, kiểm soát tính vị lợi và ích kỷ, chuẩn hóa đào tạo kỹ năng chuyên sâu theo ngành nghề;
- Nhóm nhân tố môi trường DNKiT: Kiểm soát việc cung cấp DVPKiT, quy định hợp lý về nhiệm kỳ kiểm toán và thời gian tạm ngưng, hoàn thiện quản trị công ty và hệ thống kiểm soát chất lượng tại DNKiT, hạn chế sự phụ thuộc kinh tế vào khách hàng lớn;
- Nhóm nhân tố thể chế và hội nhập: Hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao vai trò giám sát của UBCKNN và VACPA, quản lý rủi ro hành nghề trong bối cảnh hội nhập kinh tế;
- Hàm ý đối với các bên liên quan: Đơn vị sử dụng dịch vụ kiểm toán, nhà đầu tư, ngân hàng và các cơ sở đào tạo đại học. Chương này cũng nêu rõ các hạn chế của nghiên cứu và gợi ý định hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học
Thứ nhất, luận án phát triển hướng tiếp cận toàn diện khi nghiên cứu TĐLKiTV tại Việt Nam, kết hợp đồng thời giữa góc độ chủ thể hành vi của KiTV và khuôn mẫu đạo đức nghề nghiệp. Mô hình nghiên cứu bao quát từ đặc tính cá nhân KiTV, môi trường hoạt động nội bộ của DNKiT cho đến các nhân tố thể chế, pháp lý và bối cảnh hội nhập quốc tế.
Thứ hai, luận án khám phá và đưa vào mô hình các nhân tố mới phù hợp với đặc thù nền kinh tế chuyển đổi và thị trường kiểm toán đang phát triển tại Việt Nam:
- Nhóm nhân tố đặc tính cá nhân của KiTV: Tính vị lợi, đạo lý và tính ích kỷ; Thâm niên, vị trí công tác; Học tập và đào tạo, kỹ năng chuyên sâu theo từng ngành nghề; Tôn giáo.
- Nhóm nhân tố môi trường DNKiT: Nhiệm kỳ của công ty kiểm toán; Nhiệm kỳ của trợ lý kiểm toán; Quản trị công ty kiểm toán.
- Nhóm nhân tố thể chế và hội nhập quốc tế: Phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế; Rủi ro hành nghề kiểm toán; Sự thay đổi quy định pháp lý và giám sát của hội nghề nghiệp, UBCKNN.
Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị
Luận án phản ánh thực trạng TĐLKiTV thông qua các số liệu kiểm tra chất lượng thực tế tại Việt Nam giai đoạn 2012–2018, chỉ ra mức độ và thứ tự tác động của từng nhân tố đến tính độc lập. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các kiến nghị và giải pháp:
- Đối với KiTV: Nâng cao nhận thức đạo đức nghề nghiệp, duy trì tính hoài nghi chuyên môn, thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên sâu theo ngành nghề kiểm toán.
- Đối với DNKiT: Xây dựng quy chế kiểm soát chất lượng chặt chẽ; thiết lập quy trình kiểm soát DVPKiT cung cấp cho khách hàng kiểm toán; luân chuyển KiTV, giám đốc kiểm toán và trợ lý kiểm toán định kỳ; hoàn thiện cơ chế quản trị công ty nội bộ để giảm áp lực kinh tế từ khách hàng lớn.
- Đối với cơ quan quản lý (Bộ Tài chính, UBCKNN) và Hội nghề nghiệp (VACPA): Tăng cường thanh tra, kiểm tra định kỳ chất lượng kiểm toán; công khai và xử lý nghiêm các vi phạm về tính độc lập; hoàn thiện hệ thống chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp tiệm cận chuẩn mực quốc tế của IFAC/IESBA; tổ chức các chương trình đào tạo liên tục cập nhật kiến thức chuyên môn.
- Đối với cơ sở đào tạo: Đưa nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp và tình huống thực tế về tính độc lập vào chương trình giảng dạy kế toán - kiểm toán ở bậc đại học và sau đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi địa bàn khảo sát sơ cấp tập trung tại 3 tỉnh, thành phố lớn (TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương), chưa bao phủ toàn bộ các địa bàn có DNKiT hoạt động trên cả nước.
- Dữ liệu thứ cấp đánh giá thực trạng giới hạn trong giai đoạn 2012–2018 và dữ liệu sơ cấp thu thập trong giai đoạn 2017–2018.
- Luận án chỉ giới hạn phạm vi trong dịch vụ KiTBCTC, chưa mở rộng sang các dịch vụ bảo đảm khác hoặc các loại hình dịch vụ phi bảo đảm mà DNKiT đang cung cấp.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:
- Mở rộng phạm vi địa bàn điều tra khảo sát trên diện rộng tại các vùng kinh tế khác tại Việt Nam để nâng cao tính đại diện.
- Mở rộng nghiên cứu TĐLKiTV trong các loại hình dịch vụ bảo đảm khác ngoài BCTC và đánh giá tác động của tính độc lập trong các bối cảnh kiểm toán đặc thù.
- Sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hoặc nghiên cứu theo chiều dọc để theo dõi sự biến đổi của các nhân tố tác động đến tính độc lập theo từng chu kỳ thay đổi chính sách và chuẩn mực kiểm toán mới.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán: Tham khảo cấu trúc khung lý thuyết đa tầng, phương pháp luận nghiên cứu hỗn hợp tuần tự kết hợp giữa nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) và định lượng (EFA, hồi quy đa biến Enter, ANOVA).
- Doanh nghiệp kiểm toán độc lập (DNKiT): Sử dụng kết quả nghiên cứu để nhận diện các nguy cơ đe dọa tính độc lập, từ đó thiết lập quy chế kiểm soát chất lượng nội bộ, chính sách quản trị DNKiT, luân chuyển nhân sự kiểm toán và kiểm soát việc cung cấp DVPKiT.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN) và Hội nghề nghiệp (VACPA): Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ công tác hoạch định chính sách, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường công tác giám sát, kiểm tra chất lượng hành nghề.
- Khách hàng kiểm toán và người sử dụng thông tin BCTC (ngân hàng, nhà đầu tư): Hiểu rõ các khía cạnh cấu thành tính độc lập của KiTV để đánh giá mức độ tin cậy của BCTC đã được kiểm toán.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những tiêu chuẩn và chuẩn mực nghề nghiệp nào để định nghĩa và phân loại tính độc lập của kiểm toán viên?
Luận án căn cứ vào Cẩm nang Quy tắc Đạo đức Nghề nghiệp của Hội đồng Chuẩn mực Đạo đức Quốc tế cho Kế toán Chuyên nghiệp (IESBA/IFAC, 2016) và Chuẩn mực Đạo đức Nghề nghiệp Kế toán, Kiểm toán Việt Nam (Bộ Tài chính, 2015). Theo đó, TĐLKiTV bao gồm độc lập về tư tưởng và độc lập về hình thức, xoay quanh hai nguyên tắc cốt lõi là chính trực (Integrity) và khách quan (Objectivity), đồng thời kiểm soát 5 nguy cơ đe dọa (tự lợi, tự kiểm tra, quan hệ ruột thịt, tự bào chữa, bị đe dọa).
2. Luận án đã phát hiện thêm những nhân tố mới nào tác động đến TĐLKiTV trong bối cảnh Việt Nam?
Luận án bổ sung các nhân tố mới thuộc 3 nhóm:
- Đặc tính cá nhân KiTV: Tính vị lợi, đạo lý và tính ích kỷ; Thâm niên, vị trí; Học tập, đào tạo và kỹ năng chuyên sâu theo ngành nghề; Tôn giáo;
- Môi trường DNKiT: Nhiệm kỳ công ty kiểm toán; Nhiệm kỳ trợ lý kiểm toán; Quản trị công ty kiểm toán;
- Thể chế và hội nhập quốc tế: Phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế; Rủi ro hành nghề kiểm toán; Sự thay đổi quy định pháp lý và giám sát của hội nghề nghiệp, UBCKNN.
3. Phương pháp nghiên cứu của luận án được thiết kế theo trình tự nào?
Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp tuần tự: thực hiện nghiên cứu định tính trước (thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm chuyên gia) nhằm khám phá, xác định nhân tố và điều chỉnh thang đo phù hợp với thực tiễn Việt Nam; sau đó tiến hành nghiên cứu định lượng (khảo sát bảng hỏi, kiểm định Cronbach's Alpha, EFA, phân tích tương quan Pearson, phân tích hồi quy đa biến theo phương pháp Enter và kiểm định ANOVA) để kiểm định mô hình lý thuyết và đo lường mức độ tác động của các nhân tố.
4. Dữ liệu thực trạng kiểm toán độc lập tại Việt Nam trong luận án được thu thập từ những nguồn nào và trong giai đoạn nào?
Dữ liệu thứ cấp phản ánh thực trạng DNKiT, số lượng KiTV, kết quả kiểm tra chất lượng và các vi phạm hành chính được thu thập từ báo cáo chính thức của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) trong giai đoạn 2012–2018. Dữ liệu sơ cấp được tác giả khảo sát trực tiếp tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 2017–2018.
5. Luận án chỉ ra những hướng tiếp cận lý thuyết nào trong nghiên cứu về TĐLKiTV trên thế giới?
Luận án tổng kết 4 hướng tiếp cận lý thuyết chính trên thế giới gồm: tiếp cận kinh tế (DeAngelo, 1981a; Marshall A. Geiger), tiếp cận hành vi (Goldman & Barlev, 1974), tiếp cận rủi ro (Johnstone và cộng sự, 2001; Turner và cộng sự, 2002) và tiếp cận theo khuôn mẫu đạo đức nghề nghiệp (IFAC, 2016; Beattie & Fearnley, 1999; Bakar và cộng sự, 2005).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Đoàn Minh Đức (2019) đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và phương pháp luận về các nhân tố tác động đến tính độc lập của kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam. Thông qua thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng trên mẫu khảo sát thực tế cùng dữ liệu ngành giai đoạn 2012–2018, công trình đã xây dựng mô hình nghiên cứu đa tầng và xác định các nhân tố mới thuộc đặc tính cá nhân KiTV, môi trường DNKiT và thể chế vĩ mô. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp kiểm toán và củng cố tính minh bạch của thông tin tài chính tại Việt Nam.