Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết. - Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 6 CHƢƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chương này trình bày một cách tổng quan về các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về các vấn đề có liên quan đến nội dung của luận văn. Với sự hạn chế về thời gian và kiến thức, tác giả cố gắng thu thập, nghiên cứu một cách tương đối đầy đủ các nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước và quốc tế đã thực hiện về một số nội dung có liên quan đến hướng nghiên cứu của luận văn, qua đó xác định khe hở nghiên cứu để làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung và mục tiêu nghiên cứu của luận văn.1 Các nghiên cứu nƣớc ngoài Sau khi xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1856, BCKT đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, có nhiều sự biến đổi và ngày càng được hoàn thiện hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao của xã hội đối với BCKT. Và trong mỗi giai đoạn như vậy thì đã có những nghiên cứu của các tác giả trên thế giới được thực hiện nhằm tìm hiểu có tồn tại hay không khoảng cách thông tin trên BCKT đối với từng dạng BCKT trong mỗi giai đoạn.
Mặc dù BCKT ở giai đoạn sau phát triển hoàn thiện hơn BCKT giai đoạn trước nhưng kết quả các nghiên cứu cho thấy vẫn còn tồn tại khoảng cách thông tin trên các báo cáo ở từng giai đoạn.1 Các nghiên cứu về khoảng cách thông tin trên BCKT dạng ngắn Năm 1974, AICPA chỉ định Ủy ban Cohen điều tra xem có khoảng cách mong đợi tồn tại ở Hoa Kỳ hay không (AICPA 1978). Ủy ban kết luận rằng một khoảng cách như vậy đã tồn tại và xác định một số thiếu sót có thể có trong các BCKT dạng ngắn. Đặc biệt, Ủy ban kết luận rằng báo cáo tạo ra sự nhầm lẫn về trách nhiệm của nhà quản lý và KTV, nó đã không làm rõ các mục tiêu cơ bản và hạn chế của việc kiểm toán (ví dụ, người sử dụng đánh đồng các BCKT với sự lành mạnh về tài chính), và nó sử dụng các thuật ngữ dễ dàng bị hiểu sai (ví dụ “trình bày hợp lý”). Ủy ban kêu gọi BCKT cần được cải thiện và thay đổi hoặc xóa bỏ đi những thuật ngữ khó hiểu.
7 Sau điều tra của Ủy ban Cohen, hàng loạt các nghiên cứu của những tác giả khác cũng đã được thực hiện, trong đó nổi bật là những nghiên cứu sau: Vào năm 1983 tại Hoa kỳ, Bailey và cộng sự đã kiểm tra sự khác biệt trong nhận thức về các thông điệp truyền tải trên BCKT khi thay đổi từ ngữ diễn giải trên báo cáo và những người đọc có mức độ hiểu biết khác nhau. Họ phát hiện ra rằng những thay đổi từ ngữ đã tạo sự khác biệt trong nhận thức về những thông điệp trên BCKT. Đồng thời họ cũng phát hiện ra rằng người dùng có nhiều kiến thức về kiểm toán đặt ít trách nhiệm hơn cho KTV so với người dùng có ít kiến thức. Low (1984) đã thực hiện một cuộc khảo sát đối với nhóm KTV và các nhà phân tích để tìm hiểu nhận thức của họ về tầm quan trọng của BCKT chấp nhận toàn phần.
Cả KTV và các nhà phân tích tài chính tin rằng các BCKT cung cấp ít thông tin về sự ổn định tài chính của công ty. Cả hai nhóm có quan điểm khác nhau về độ tin cậy và chính xác của các thông tin tài chính được trình bày trong BCTC được kiểm toán. Kết quả tương tự cũng được tìm thấy liên quan đến mức độ mà KTV phát hiện ra các gian lận trọng yếu. Cả hai nhóm đều đồng ý rằng KTV không cung cấp thông tin về hiệu quả quản lý.
Dựa trên những kết quả này, tác giả cho rằng các BCKT dạng ngắn nên được thay thế bằng một báo cáo dạng dài nhằm cung cấp cho người sử dụng nhiều thông tin hơn về bản chất và mục đích của kiểm toán. McEnroe và Martens (2001) so sánh nhận thức của các KTV và các nhà đầu tư về trách nhiệm của KTV liên quan đến các mức độ khác nhau về chức năng chứng thực của kiểm toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy so với KTV, nhà đầu tư có những kỳ vọng cao hơn cho các khía cạnh bảo đảm của kiểm toán trong các lĩnh vực khác nhau sau: + Mỗi khoản mục quan trọng đối với các nhà đầu tư và các chủ nợ đã được báo cáo hay trình bày trong các BCTC. + Các KTV đã thực hiện chức năng "cơ quan giám sát của công chúng" cho các chủ nợ, các cổ đông của công ty được kiểm toán.
+ Hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty đã được kiểm toán có hiệu quả. + Các BCTC không còn có sai sót do gian lận của nhà quản lý. 8 + Các BCTC không còn có sai sót nhằm che giấu hành vi gian lận của nhân viên. + Không có hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện bởi công ty được kiểm toán.
Best và cộng sự (2001) kiểm tra mức độ khoảng cách thông tin tồn tại dưới hình thức BCKT dạng ngắn ở Singapore bằng cách xem xét sự khác biệt giữa sự mong đợi của người sử dụng BCKT (nhân viên ngân hàng và nhà đầu tư) và nhận thức của KTV về vai trò của kiểm toán. Các kết quả của nghiên cứu này tìm thấy một khoảng cách thông tin tồn tại và đặc biệt là liên quan đến mức độ và bản chất của trách nhiệm KTV, cụ thể ở những vấn đề sau: + KTV có trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận. + KTV chịu trách nhiệm duy trì sổ sách kế toán. + KTV chịu trách nhiệm trong việc ngăn ngừa hành vi gian lận.
+ KTV thực hiện đánh giá trong việc lựa chọn thủ tục kiểm toán. + KTV chịu trách nhiệm về tính hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống KSNB. + KTV đồng ý với các chính sách kế toán được sử dụng trong BCTC. + BCTC phản ánh trung thực và hợp lý.
+ Đơn vị không có gian lận. + BCTC đã được kiểm toán là hữu ích trong việc giám sát hoạt động của đơn vị. Tóm lại, kết quả các nghiên cứu trên cho thấy có một khoảng cách thông tin tồn tại mạnh mẽ trên BCKT dạng ngắn, nguyên nhân là do những khác biệt trong nhận thức giữa KTV so với người sử dụng BCKT về các từ ngữ được sử dụng trên báo cáo, trách nhiệm của KTV và về vai trò, chức năng của kiểm toán. Các nghiên cứu đề xuất giải pháp thu hẹp khoảng cách này bằng việc thay đổi BCKT dạng ngắn sang báo cáo dạng dài, trong đó hạn chế việc sử dụng các thuật ngữ gây khó hiểu (như “trình bày hợp lý”,…) và có đoạn mô tả rõ bản chất, vai trò và chức năng của kiểm toán.2 Các nghiên cứu về khoảng cách thông tin trên BCKT theo SAS 58 Để đáp ứng lại đề nghị của Ủy ban Cohen về việc cải thiện BCKT hiện có, năm 1988, AICPA đã ban hành SAS 58 – “Reporting on Audited Financial Statements” (“Báo cáo về báo cáo tài chính đã được kiểm toán”) quy định một BCKT dạng dài gồm ba đoạn, bao gồm một đoạn giới thiệu rõ ràng đặt ra trách nhiệm tương đối của nhà quản lý và KTV, cũng như đoạn phạm vi mô tả bản chất và hạn chế của kiểm toán, và đoạn trình bày ý kiến kiểm toán.
Các nghiên cứu lại tiếp tục được thực hiện nhằm đánh giá xem khoảng cách thông tin có còn tồn tại khi áp dụng BCKT chuẩn ba đoạn hay không. Một số kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù BCKT đã được thay đổi theo chiều hướng tiến bộ hơn nhưng khoảng cách thông tin vẫn còn tồn tại trên báo cáo. Kelly và Mohrweis (1989) đã kiểm tra tác động của BCKT chuẩn theo SAS 58 đến nhận thức của người sử dụng liên quan đến các thông điệp được chuyển tải bởi báo cáo này. Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên các nhân viên ngân hàng và các nhà đầu tư, để kiểm tra xem những thay đổi trong cách diễn đạt của báo cáo có làm tăng tính dễ hiểu của nó và làm rõ mức độ trách nhiệm của KTV hay không.
Kết quả cho thấy tính dễ hiểu của báo cáo tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, những thay đổi từ ngữ không làm thay đổi nhận thức của nhà đầu tư về mức độ trách nhiệm được cho là của KTV. Các nhân viên ngân hàng nhận thấy trách nhiệm của KTV theo BCKT mới là ít hơn so với BCKT dạng ngắn. Các nhân viên ngân hàng và các nhà đầu tư đọc báo cáo mới đồng ý rằng nhà quản lý chịu trách nhiệm trình bày và công bố thông tin trên BCTC.
Hatherly và cộng sự (1991) đã tiến hành khảo sát 140 học viên MBA đến từ Đại học Edinburgh nhằm tìm hiểu liệu BCKT mới (BCKT chuẩn theo SAS 58) so với báo cáo hình thức ngắn được sử dụng ở Anh có giúp người đọc hiểu rõ hơn về kiểm toán và vai trò của KTV. Kết quả cung cấp bằng chứng rõ ràng về khả năng BCKT mới đã làm thay đổi nhận thức của người đọc, liên quan đến các vấn đề: KTV là trung thực và khách quan; KTV sử dụng các xét đoán; chính sách kế toán 10 doanh nghiệp sử dụng phù hợp; nhà quản lý chịu trách nhiệm đối với BCTC chứ không phải là KTV. Tuy nhiên, BCKT mới không làm thay đổi nhận thức người đọc ở một số lĩnh vực như: KTV hài lòng với BCTC của công ty; công ty không còn gian lận; KTV bổ sung thêm độ tin cậy cho BCTC; công ty được quản lý tốt và sổ sách kế toán thích hợp đã được lưu giữ. Miller và cộng sự (1993) so sánh nhận thức của cán bộ tín dụng ngân hàng liên quan đến BCKT mới (báo cáo chuẩn dạng ba đoạn theo SAS 58) và BCKT cũ (báo cáo dạng ngắn).
Kết quả cho thấy BCKT mới đã cải thiện đáng kể giá trị truyền thông giữa KTV và người sử dụng BCKT. Các cán bộ tín dụng cho rằng BCKT mới dễ hiểu hơn, họ đã hiểu rõ hơn về trách nhiệm của KTV và nhà quản lý đối với BCTC. Mặc dù BCKT mới bao gồm một đoạn mô tả chi tiết về phạm vi và bản chất của việc kiểm toán nhưng nó gần như không có tác động đến nhận thức của các nhân viên tín dụng ngân hàng về phạm vi, bản chất và giới hạn kiểm toán.