Chương 1 nêu rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài và giới thiệu phương pháp nghiên cứu sử dụng để đạt mục tiêu nghiên cứu và trả lời cho câu hỏi nghiên cứu. Chương này cũng trình bày kết quả các nghiên cứu trong nước và trên thế giới liên quan đến đề tài. Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên đã nhận dạng một số nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin và thông tin công cụ tài chính. Tuy nhiên, các nghiên cứu này được thực hiện ở các quốc gia khác nhau và còn một số hạn chế trong nghiên cứu về mẫu, biến nghiên cứu.
Do nghiên cứu về mức độ trình bày, công bố thông tin công cụ tài chính cho các công ty niêm yết thực hiện ở Việt Nam chưa đánh giá các nhân tố phi tài chính, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài này ở Việt Nam góp phần đóng góp vào lý thuyết nghiên cứu trong điều kiện ở Việt Nam. 12 CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các lý thuyết liên quan 2.1 Lý thuyết ủy nhiệm Jensen và Meckling (1976) định nghĩa mối quan hệ ủy nhiệm như một hợp đồng theo đó một hoặc nhiều người (bên ủy nhiệm) liên kết với một người khác (bên được ủy nhiệm) thực hiện một số dịch vụ thay họ, bao gồm việc ủy thác một số quyền ra quyết định cho bên được ủy nhiệm. Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng cả hai bên ủy nhiệm và được ủy nhiệm đều tối đa hóa lợi ích của mình, do đó, bên được ủy nhiệm sẽ không luôn luôn hành động tốt nhất cho lợi ích của bên ủy nhiệm. Khi bên ủy nhiệm đưa ra các khuyến khích thích hợp và các chi phí theo dõi để hạn chế hoạt động sai lệch của bên được ủy nhiệm và các thiệt hại còn lại làm giảm lợi ích của bên ủy nhiệm do quyết định của bên được ủy nhiệm làm phát sinh chi phí ủy nhiệm.
Cho đến nay hàng triệu cá nhân đầu tư tài sản vào các công ty đã ủy nhiệm cho các nhà quản lý trên cơ sở các hợp đồng phức tạp trong đó phân định các quyền của các bên liên quan. Sự phát triển của hình thức công ty cũng như sự tăng trưởng trong giá trị thị trường của các công ty cho thấy các chủ nợ và các nhà đầu tư đã được gia tăng lợi ích mặc dù có tồn tại chi phí ủy nhiệm. Lý thuyết ủy nhiệm thừa nhận rằng việc tách quyền sở hữu và quản lý, được ghi nhận trong việc thành lập công ty thường đi kèm cùng với vô số các vấn đề ủy nhiệm. Cuộc xung đột lợi ích này giữa ban quản lý và các cổ đông đã làm phát sinh rất nhiều công cụ trong nỗ lực để kiểm soát các hành vi cơ hội của các nhà quản lý doanh nghiệp, và cơ cấu quản trị doanh nghiệp đã trở thành công cụ chính được sử dụng trong việc cân đối lợi ích giữa ban quản lý doanh nghiệp với các cổ đông (Fama và Jensen, 1983).
Theo Jensen và Meckling (1976), những mâu thuẫn ủy nhiệm tiềm tàng do việc tách quản lý và sở hữu trong các công ty hiện đại trở nên lớn hơn, nơi quyền sở hữu bị phân tán do cổ phiếu được nắm giữ bởi nhiều người hơn. Điều này là bởi vì nếu cổ phiếu được nắm giữ rộng rãi sẽ phân tán lợi ích giữa các bên ký kết hợp đồng (Fama và Jensen, 1983). Tính minh bạch của thông tin về tài chính có thể giảm thiểu xung đột về lợi ích giữa các cổ đông và các nhà quản lý 13 do việc tách quyền sở hữu và kiểm soát của doanh nghiệp (Jensen và Meckling, 1976), do các nhà quản lý công bố thông tin để chứng minh rằng họ đang hành động vì lợi ích tốt nhất của chủ sở hữu. Lý thuyết dự đoán rằng chi phí ủy nhiệm sẽ khác nhau với các đặc điểm khác nhau của công ty, như quy mô, đòn bẩy và tình trạng niêm yết.
Chẳng hạn lý thuyết có thể cho thấy các công ty có mức vốn vay cao sẽ công bố nhiều thông tin hơn để đáp ứng nhu cầu của chủ nợ. Thông qua các công ty công bố thông tin nhiều hơn cố gắng giảm chi phí vốn bằng cách giảm sự không chắc chắn của nhà đầu tư. Vận dụng lý thuyết ủy nhiệm, bài viết xây dựng giả thuyết nghiên cứu và dự đoán chiều hướng tác động của các nhân tố quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, mức độ tập trung quyền sở hữu, sự độc lập của hội đồng quản trị tác động đến mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố.2 Lý thuyết tín hiệu Theo Connelly (2011) lý thuyết tín hiệu là hữu ích cho việc mô tả hành vi khi hai bên là cá nhân hoặc tổ chức có thể tiếp cận thông tin khác nhau. Thông thường, bên người gửi phải lựa chọn có thực hiện hay không và làm thế nào để truyền thông tin đó, và bên người nhận phải lựa chọn giải thích các tín hiệu như thế nào.
Theo đó, lý thuyết tín hiệu có vai trò đáng chú ý trong lý thuyết quản trị bao gồm cả quản trị chiến lược, doanh nghiệp và nguồn nhân lực. Lý thuyết tín hiệu cơ bản là có liên quan với việc giảm sự bất cân xứng thông tin giữa hai bên (Spence, 2002). Lý thuyết tín hiệu đã được Spence (1973) phát triển để giải thích hành vi trong thị trường lao động nhưng có thể giúp giải thích việc công bố thông tin trong kinh doanh. Trong kinh doanh, người phát tín hiệu là người bên trong doanh nghiệp như giám đốc điều hành, nhà quản lý; họ có thông tin nội bộ tiêu cực hoặc tích cực và người phát tín hiệu thường có xu hướng không truyền thông tin tiêu cực ra bên ngoài dẫn đến bất cân xứng thông tin.
Người nhận có thể căn cứ thông tin thu được để ra quyết định, do đó sự hữu ích của tín hiệu đối với người sử dụng phụ thuộc vào chất lượng thông tin. Sử dụng lý thuyết tín hiệu, Zhang và Wiersema (2009) đề xuất đặc điểm của giám đốc điều hành, đội ngũ quản lý và chất lượng báo cáo tài chính 14 của công ty gửi tín hiệu quan trọng đến cộng đồng đầu tư, nhà đầu tư sử dụng các đặc điểm trên để phân biệt chất lượng của các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng ở các công ty. Các nhà quản lý của các công ty chất lượng cao hơn sẽ muốn phân biệt mình với các công ty có chất lượng thấp thông qua việc công bố thông tin tự nguyện. Vận dụng lý thuyết tín hiệu, bài viết xây dựng giả thuyết nghiên cứu và dự đoán chiều hướng tác động của nhân tố đòn bẩy tài chính tác động đến mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố.3 Lý thuyết các bên liên quan Lý thuyết các bên liên quan được đưa ra bởi Freeman vào năm 1984 như là một đề xuất quản lý chiến lược của các tổ chức cuối thế kỷ hai mươi.
Freeman xác định các bên liên quan là bất kỳ cá nhân hay nhóm người bị ảnh hưởng hoặc có thể ảnh hưởng đến mục tiêu của tổ chức. Mối quan hệ các bên liên quan với tổ chức giúp họ được hưởng lợi ích từ hành động của tổ chức hoặc ngược lại tổ chức có thể gây hại hoặc ảnh hưởng đến quyền của họ (Freeman, 2001); như vậy họ bao gồm các cổ đông, các nhà quản lý của công ty, cộng đồng, khách hàng, nhân viên, nhà cung cấp và các cơ quan quản lý. Các bên liên quan quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của công ty, vì vậy các nhà quản lý thực hiện quản lý và tích hợp các mối quan hệ và lợi ích của cổ đông, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng nhằm đảm bảo sự thành công lâu dài của công ty. Cách tiếp cận bên liên quan nhấn mạnh quản lý chủ động trong môi trường kinh doanh, các mối quan hệ và lợi ích chung.
Các bên liên quan có thể sẽ sử dụng số liệu trên báo cáo tài chính để giúp đánh giá uy tín của công ty và đưa ra các quyết định kinh tế (Bowen, 1995), do đó thông tin trên báo cáo tài chính là quan trọng đối với các bên liên quan và các công ty, bao gồm cả các thông tin công cụ tài chính. Vận dụng lý thuyết các bên liên quan, bài viết xây dựng giả thuyết nghiên cứu và dự đoán chiều hướng tác động của nhân tố đòn bẩy tài chính và công ty kiểm toán tác động đến mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố.4 Lý thuyết lập quy Có nhiều dạng đại diện cơ bản cho lý thuyết lập quy, nhưng thường phổ biến ở ba dạng sau: - Lý thuyết lợi ích xã hội: được phát triển bởi Pigou vào năm 1932, lý thuyết này cho rằng cần thiết lập các quy định để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong việc điều chỉnh sự bất công hoặc không hiệu quả của giá cả thị trường; từ đó bảo vệ lợi ích chung của xã hội. Trong lĩnh vực kế toán, lý thuyết này là cơ sở thiết lập các tổ chức lập quy về kế toán. - Lý thuyết nắm giữ còn gọi là lý thuyết nhóm lợi ích: cho rằng các nhóm lợi ích trong xã hội thường yêu cầu các quy định được thiết lập để tối đa hóa lợi ích của các thành viên trong nhóm.
Theo Stigler (1971) thì các nhóm lợi ích sẽ sử dụng quyền lực để tác động vào chính phủ nhằm ban hành các luật và quy định theo cách có lợi cho họ. - Lý thuyết lợi ích cá nhân: giả định rằng những người có trách nhiệm trong các tổ chức lập quy thường hành xử dựa trên lợi ích cá nhân của họ. Theo Watts và Zimmerman (1978), khi các cá nhân tối đa hóa lợi ích của mình dẫn đến các công ty thực hiện vận động hành lang những người trong cơ quan ban hành luật, chuẩn mực kế toán để ban hành các quy định, chuẩn mực kế toán có lợi. Vận dụng lý thuyết lập quy, bài viết xây dựng giả thuyết nghiên cứu và dự đoán chiều hướng tác động của nhân tố mức độ tập trung quyền sở hữu tác động đến mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố.5 Lý thuyết ngẫu nhiên Lý thuyết này cho rằng không có duy nhất một hệ thống quản trị hiệu quả nào phù hợp cho tất cả các tổ chức và cho mọi hoàn cảnh; do những đặc điểm riêng của hệ thống và hiệu quả của nó sẽ phụ thuộc vào các đặc thù riêng của tổ chức và các nhân tố thuộc về hoàn cảnh (Otley, 1980; Ferreira và Otley, 2009).