mở đầu: - Các loại BCTC được kiểm toán - Đơn vị được kiểm toán - Ngày lập của BCTC 123doc Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software http://www.com For evaluation only. 12 - Trách nhiệm của nhà quản lý - Trách nhiệm của kiểm toán viên. + Những nội dung căn bản của đoạn phạm vi: - Chỉ ra những chuẩn mực kiểm toán sử dụng để tiến hành kiểm toán. - Mục tiêu của cuộc kiểm toán.
Mô tả các công việc KTV thực hiện khi tiến hành kiểm toán. + Những nội dung căn bản của đoạn ý kiến: - Trình bày ý kiến về sự trung thực hợp lý hay không của BCTC được kiểm toán dựa trên cơ sở của cuộc kiểm toán. - Sư phù hợp giữa chuẩn mực lập BCTC và chuẩn mực kế toán quốc gia hay quốc tế và sự phù hợp yêu cầu của luật pháp. + Về Các loại ý kiến kiểm toán: BCKT bày tỏ ý kiến của KTV về BCTC được kiểm toán.
KTV sử dụng một trong các ý kiến sau cho phù hợp với những trường hợp cụ thể: - Ý kiến chấp nhận toàn phần - Ý kiến chấp nhận từng phần (ý kiến ngoại trừ) - Ý kiến không chấp nhận - Ý kiến từ chối. Lịch sử ra đời và phát triển của BCKT: BCKT ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nghề nghịệp kiểm toán. Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, BCKT ngày càng thay đổi và hoàn thiện. Sự thay đổi này trải qua các thời kỳ như sau: - Thời kỳ sơ khai:.
Nghề nghiệp kiểm toán đã có từ lâu đời kể từ thời kỳ mà các thông tin phê chuẩn bằng cách đọc lên trên các buổi họp công khai. Sau này, với sự mở rộng quy mô của doanh nghiệp, nên đã dần có sự tách rời giữa quyền sở hữu của các cổ đông với chức năng điều hành của nhà quản lý, từ đó xuất hiện nhu cầu kiểm tra của chủ sở hữu để chống lại gian lận của nhà quản lý lẫn 123doc Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software http://www.com For evaluation only. 13 những người làm công, vì thế kiểm toán độc lập đã ra đời vào thế kỷ 18 để đáp ứng nhu cầu này. Vào những năm cuối thế kỷ 19, nhiều quốc gia ban hành nhiều đạo luật liên quan đến nghề nghiệp kiểm toán như: Tại Anh, vào 1844, đã ban hành Luật công ty Anh, tại Canada đạo luật công ty Ontario ban hành năm 1907.
Trong đó, có yêu cầu BCTC của các công ty niêm yết phải được kiểm toán và Luật công ty cũng đề cập đến trách nhiệm của KTV kiểm toán. Tuy nhiên ở thời kỳ này, hệ thống chuẩn mực kiểm toán chưa được xây dựng, vì vậy chưa có BCKT chuẩn. Mỗi KTV tự đưa ra BCKT cho mình. Để giảm thiểu trách nhiệm về mặt pháp lý, nhiều công ty kiểm toán hay KTV thường sử dụng ngôn từ theo hướng có lợi nhất cho công ty kiểm toán.
Các từ ngữ có thể rất mơ hồ hay có thể hiểu bằng nhiều cách khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy, BCKT ở các công ty khác biệt nhau rất đáng kể giữa các công ty. Một số báo cáo sử dụng từ ngữ rất ngắn gọn như là: “đã kiểm toán và nhận thấy rằng báo cáo chính xác”(audited and found correct) hay đã kiểm tra và nhận thấy là chính xác ("examined and found correct" (Gordon, 1961)), “lập chính xác hay trình bày trung thực và chính xác”, “trình bày trung thực tình hình tài chính" (Flesher and Flesher, 1980). Đôi khi có trường hợp, KTV chỉ đơn giản ký vào BCĐKT(Lee, 1970).
Chẳng hạn như báo cáo kiểm toán cho công ty Dominion Textile company Limited (1906) như sau: .Chúng tôi đã hoàn thành cuộc kiểm toán về thông tin tài chính của công ty cho năm kết thúc 31/3/1906. Trong suốt năm, chúng tôi đã thực hiện kiểm toán đều đặn mỗi tháng một lần. Các nghiệp vụ phát sinh được phản ảnh cẩn thận và chính xác vào sổ sách kế toán. Các khoản chi tiêu và việc mua sắm được xác nhận bởi các chứng từ, hóa đơn.
Báo cáo tiền hàng tháng từ các chi nhánh khác nhau, đều được hổ trợ bởi những hóa đơn chứng từ, và đã được ghi nhận chính xác trong sổ sách. Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và khoản vay thỉnh thoảng được công ty kiểm tra và được xác minh bởi giấy chứng nhận từ ngân hàng. Vật liệu tồn kho, thành phẩm, 123doc Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software http://www.com For evaluation only. 14 sản phẩm dở dang, công cụ dụng cụ tại những chi nhánh của công ty đều được trình bày trong báo cáo chi tiết và tổng hợp, đều được xác nhận và chuẩn y bởi tổng giám đốc công ty.
BCTC hàng năm được lập cho cả 2 chi nhánh mua và chi nhánh thuê lại. Báo cáo này được lập chính xác từ sổ sách kế toán và chúng tôi đã ký xác nhận vào đó. Công việc suốt năm qua đã thực hiện thỏa đáng và bộ phận kế toán đã thực hiện các bút toán điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu của kiểm toán. Điều đó, làm cho chúng tôi tin vào nhân viên của công ty.
Có thể thấy rằng báo cáo trên không chứa đựng các nội dung chủ yếu như trong báo cáo hiện hành mà chỉ nêu ý kiến về một số khoản mục trên BCTC. Chính từ việc không có báo cáo chuẩn, nên trong giai đoạn này, một số công ty kiểm toán thường lạm dụng một số cụm từ như: Tùy thuộc vào (subject to) để có thể đạt được 2 mục đích: giữ được khách hàng và giảm thiểu trách nhiệm pháp lý. (Jone Carey4, trong một bài thơ viết về BCKT trong giai đoạn này. - Giai đoạn hình thành: Vào 1929, đã xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế đưa đến sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Hoa Kỳ.
Sự sụp đổ tháng 10/1929 làm cho niềm tin của công chúng về thị trường bị giảm sút. Nhiều nhà đầu tư lớn, nhỏ, ngay cả ngân hàng đã chịu các thiệt hại đáng kể từ cuộc khủng hoảng này. Để phục hồi nền kinh tế và niềm tin của công chúng về thị trường vốn, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật chứng khoán năm 1933 và luật giao dịch chứng khoán 1934. Từ đó, Ủy Ban chứng khoán (SEC) ra đời với mục đích bảo vệ nhà đầu tư, ổn định thị trường.
Theo Luật chứng khoán và luật giao dịch chứng khoán, BCTC của các công ty niêm yết cần được kiểm toán bởi KTV độc lập nhằm nâng cao tính minh bạch của thông tin BCTC. Từ đó, dẫn đến kết quả ra đời của thỏa thuận về BCKT chuẩn (First US standard Audit report 1934) giữa AIA (Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ ) và Ủy ban chứng khoản NewYork Hoa Kỳ. Người ta hy vọng rằng việc chuẩn hóa từ ngữ sẽ hạn chế sự mơ hồ trong diễn đạt, sẽ làm người đọc hiểu rõ hơn nhằm phân 123doc Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software http://www.com For evaluation only. 15 biệt các loại ý kiến khác nhau.
Nghề nghiệp kiểm toán cũng nhận thấy việc chuẩn hóa từ ngữ còn là lá chắn để bảo vệ KTV về phương diện pháp lý. Báo cáo chuẩn trong giai đoạn này bao gồm 2 đoạn: đoạn mô tả công việc và đoạn cho ý kiến. Thuật ngữ báo cáo chuẩn chỉ đề cập đến báo cáo dưới hình thức ngắn gọn trong đó KTV cho ý kiến chấp nhận toàn phần, không có đề cập đến ý kiến ngoại trừ hay thêm một đoạn giải thích. Mẫu của BCKT chuẩn như sau: Chúng tôi đã kiểm tra bảng cân đối kế toán của công ty XYZ vào ngày 31/12/1933, và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của năm 1933.
Khi thực hiện, chúng tôi kiểm tra các sổ sách kế toán và tài liệu hổ trợ khác cũng như đã thu thập thông tin và sự giải thích từ nhân viên văn phòng và người lao động của công ty. Chúng tôi cũng đã soát xét về mặt tổng thể phương pháp kế toán và các nghiệp vụ liên quan đến kết quả kinh doanh của công ty phát sinh trong năm kiểm toán, nhưng chúng tôi không kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ phát sinh. Theo ý kiến chúng tôi, dựa vào sự kiểm tra, bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh đính kèm theo đã trình bày trung thực phù hợp với nguyên tắc chấp nhận và áp dụng nhất quán trong năm tại ngày 31/12/1933. Có thể nói đây là một bước tiến lớn trong lịch sử của BCKT, nhờ việc chuẩn hóa.
BCKT trong giai đoạn này yêu cầu ý kiến của KTV được tách rời ở một đoạn riêng, không trình bày chung với việc mô tả những công việc mà KTV thực hiện trong cuộc kiểm toán. So với thời kỳ sơ khai, hình thức và nội dung của BCKT được quy định rõ ràng. Từ ngữ được sử dụng thống nhất hơn, tránh những từ ngữ mơ hồ hay không hợp lý. Như việc lạm dụng cụm từ tùy thuộc vào, chứng nhận (certify), chính xác (correct) trong BCKT từ trước đó đã bị hạn chế.
- Giai đoạn phát triển: Với sự phát triển nền kinh tế sau giai đoạn khủng hoảng, các yêu cầu đối với nghề nghiệp kiểm toán ngày càng cao, đặc biệt đối với việc kiểm toán cho các công ty niêm yết. Trước tình hình đó, năm 1948, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ đã ban hành thủ tục kiểm toán SAP 24: “Mẫu BCKT” (1948). BCKT có mẫu như sau: 123doc Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software http://www.com For evaluation only. 16 Chúng tôi đã kiểm tra bảng cân đối kế toán của công ty X tại ngày 31/12/19.
cũng như các báo cáo khác liên quan như báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Cuộc kiểm tra của chúng tôi được thực hiện phù hợp với chuẩn mực kiểm toán chấp nhận rộng rãi, và do vậy sẽ bao gồm việc kiểm tra các tài liệu, sổ sách kế toán cũng như những thủ tục kiểm toán mà chúng tôi cho là cần thiết. Theo ý kiến của chúng tôi, bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh đã trình bày trung thực tình hình tài chính của công ty X tại 31/12/19, phù hợp với những nguyên tắc kế toán chấp nhận rộng rãi, áp dụng nhất quán với các phương pháp của năm trước. Những năm sau đó, để đáp ứng yêu cầu của sự thay đổi về Luật, nhiều đề nghị là trong báo cáo cần bổ sung từ “trình bày trung thực "present fairly".
Đến năm 1959, trong báo cáo, đuợc yêu cầu thêm phần phù hợp với GAAP và phương pháp kế toán được áp dụng nhất quán. Đồng thời, có các khuyến nghị thay thế cụm từ trung thực và chính xác bằng cụm từ trình bày trung thực, do từ chính xác có thể làm cho người đọc hiểu nhầm rằng chính xác cao hơn việc tuân thủ chuẩn mực.