CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM 1. Công ty niêm yết và việc công bố thông tin kế toán 1. Công ty niêm yết Công ty niêm yết là những công ty cổ phần được Sở giao dịch chứng khoán cho phép niêm yết cổ phiếu của mình cho mục đích giao dịch trên Sở khi đáp ứng được một số điều kiện quy định. Hiện tại, ở Việt Nam, các điều kiện niêm yết được quy định trong Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ - Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán.
Nghị định này thay thế cho Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007. Trong đó, các điều kiện niêm yết được yêu cầu khắt khe hơn để bảo đảm chất lượng các công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Nhìn chung các điều kiện niêm yết bao gồm: • Yêu cầu về mức vốn điều lệ • Yêu cầu về thời gian hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần, hiệu quả hoạt động kinh doanh, về khả năng thanh toán nợ của công ty • Công khai các khoản nợ của các tổ chức, thành viên quan trọng của công ty như Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc, Kế toán trưởng, cổ đông lớn,. • Quy định về số lượng cổ đông nhỏ và tỷ lệ cổ phiếu có quyền biểu quyết tối thiếu của cổ đông nhỏ.
• Quy định về thời gian cam kết nắm giữ cổ phiếu của các tổ chức, cá nhân quan trọng của công ty • Có hồ sơ đăng ký niêm yết hợp lệ Các quy định này có sự phân biệt giữa các công ty niêm yết ở Sỏ giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX). Theo đó, các công ty niêm yết ở HOSE phải đáp ứng các yêu cầu cao hơn so với các 123doc 4 công ty niêm yết ở HNX về mức vốn điều lệ, thời gian, hiệu quả hoạt động, số lượng cổ đông nhỏ,. Công bố thông tin kế toán của công ty niêm yết Kế toán và thông tin kế toán Theo Luật kế toán (2003) : ”Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động.” Theo đó, ta có thể hiểu, Thông tin kế toán là thông tin về kinh tế, tài chính do kế toán thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp cho các đối tượng sử dụng. Nghiệp vụ kinh tế, tài chính là những hoạt động phát sinh cụ thể làm tăng, giảm tài sản, nguồn hình thành tài sản của đơn vị kế toán.
Căn cứ vào thông tin kế toán cung cấp mà kế toán được chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị. ”Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán.” (Luật kế toán, 2003) ”Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.” (Luật kế toán, 2003) Như vậy, thông tin kế toán được đề cập ở đây chủ yếu là thông tin do kế toán tài chính cung cấp qua báo cáo tài chính của các công ty niêm yết. Ý nghĩa của việc công bố thông tin kế toán Trên thế giới và ở Việt Nam, theo quy định của pháp luật, các công ty niêm yết có nghĩa vụ phải công bố thông tin kế toán trên thị trường chứng khoán. Việc công bố thông tin kế toán của công ty niêm yết có vai trò quan trọng do: • Việc cung cấp thông tin kế toán là để xác định được doanh nghiệp có đủ điều kiện niêm yết hay không? Điều này để nâng cao chất lượng các công ty được giao dịch và được thu hút vốn từ các nhà đầu tư.
Các công ty không còn đủ điều kiện sẽ không được tiếp tục niêm yết. 123doc 5 • Căn cứ vào thông tin kế toán được cung cấp, các nhà đầu tư sẽ ra quyết định mua, bán chứng khoán. Như vậy, thông tin kế toán là một trong các yếu tố hình thành nên cung cầu hàng hóa trên thị trường chứng khoán (Phạm Đức Tân, 2009) • Căn cứ vào thông tin kế toán được các công ty niêm yết cung cấp, các cơ quan quản lý, các tổ chức có thể đánh giá được thực trạng, tình hình kinh tế chung, thực trạng của các ngành. Từ đó có thể ra quyết định điều hành kinh tế phù hợp (Phạm Đức Tân, 2009) Quy định hiện tại về việc công bố thông tin của công ty niêm yết Hiện tại việc công bố thông tin của công ty niêm yết ở Việt Nam được thực hiện theo thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 của Bộ tài chính - Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.
Thông tư này thay thế cho Thông tư số 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010, đã bổ sung thêm một số nội dung quan trọng để nâng cao chất lượng thông tin kế toán được cung cấp của doanh nghiệp niêm yết, cụ thể như: • Công ty niêm yết phải công bố thông tin về giải trình đối với ý kiến ngoại trừ/lưu ý trên báo cáo kiểm toán • Công ty niêm yết phải công bố giải trình số liệu tài chính do công ty công bố khác với số liệu tài chính tại Báo cáo tài chính được kiểm toán Cũng theo thông tư số 52/2012/TT-BTC, việc công bố thông tin được chia thành 3 nhóm theo thời điểm công bố: • Công bố thông tin định kỳ: các thông tin được công bố chủ yếu là báo cáo tài chính hàng quý, báo cáo tài chính bán niên, báo cáo tài chính kiểm toán năm và các công văn giải trình biến động lợi nhuận sau thuế, ý kiến kiểm toán. • Công bố thông tin bất thường: các thông tin về tổn thất tài sản có giá trị lớn (từ 10%), tăng giảm vốn điều lệ,vốn góp, vấn đề mua bán tài sản có giá trị lớn (từ 15%), biến động giá chứng khoán niêm yết, giải trình khác biệt số liệu sau kiểm toán 123doc 6 • Công bố thông tin theo yêu cầu của Ủy ban chứng khoán nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán khi có các sự kiện nghiêm trọng ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Như vậy, có thể thấy, đối với báo cáo tài chính hàng năm của công ty phải được kiểm toán trước khi công bố ra bên ngoài. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của hoạt động kiểm toán trong việc công bố thông tin kế toán.
Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán báo cáo tài chính 1. Định nghĩa về kiểm toán Một trong các định nghĩa về kiểm toán được chấp nhận rộng rãi là: ”Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập” (Auditing: An integrated approach, A.Locbbecke, Prentice Hall, 1997) Trong đó: • Thông tin được kiểm tra: là báo cáo tài chính các doanh nghiệp, các tờ khai thuế của đơn vị,. • Các chuẩn mực được thiết lập: là cơ sở để đánh giá thông tin được kiểm tra.
Cụ thể như là các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán, các văn bản luật thuế,. • Bằng chứng kiểm toán: là các thông tin để chứng minh cho ý kiến nhận xét của kiểm toán viên, cụ thể nhý chứng từ kế toán, thý xác nhận công nợ, báo cáo chứng kiến kiểm kê,. • Báo cáo kiểm toán: là văn bản trình bày ý kiến chính thức của kiểm toán về sự phù hợp giữa thông tin được kiểm tra và chuẩn mực đã được thiết lập. Cụ thể đối với kiểm toán báo cáo tài chính là kiểm toán viên đưa ra ý kiến về sự trung thực, hợp lý của báo cáo chính được kiểm toán.
• Kiểm toán viên phải có đủ năng lực và độc lập: năng lực kiểm toán viên là trình độ nghiệp vụ được hình thành qua đào tạo và tích lũy kinh nghiệm. Sự độc lập 123doc 7 với đơn vị kiểm toán là yêu cầu cần thiết để có được sự khách quan của kiểm toán viên và niềm tin của người sử dụng kết quả kiểm toán. Phân loại kiểm toán Người sử dụng thông tin thường có các yêu cầu khác nhau đối với các thông tin được kiểm tra. Để đáp ứng với yêu cầu trên, các loại hình kiểm toán với các mục đích khác nhau đã hình thành và có các chủ thể kiểm toán khác nhau (Sách Kiểm toán - Đại học Kinh tế Tp.
Hồ Chí Minh, 2012). Đây là hai tiêu thức chủ yếu để phân loại kiểm toán: Phân loại theo chủ thể kiểm toán: • Kiểm toán nội bộ: là hoạt động kiểm toán do nhân viên trong nội bộ đơn vị thực hiện. Họ có thể thực hiện được cả 3 loại kiểm toán: hoạt động, tuân thủ và báo cáo tài chính nhưng chủ yếu là kiểm toán hoạt động • Kiểm toán của nhà nước: hoạt động kiểm toán do các công chức của nhà nước tiến hành, chủ yếu là kiểm toán tuân thủ • Kiểm toán độc lập: loại kiểm toán được tiến hành bởi các kiểm toán viên thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập, chủ yếu là kiểm toán báo cáo tài chính. Phân loại theo mục đích kiểm toán: • Kiểm toán hoạt động: là việc kiểm tra và đánh giá về sự hữu hiệu và tính hiệu quả đối với hoạt động của tổ chức để đề xuất những biện pháp cải tiến.
Đối tượng kiểm toán hoạt động thì đa dạng cho nên không thể đưa ra một chuẩn mực chung để đánh giá mà tuy đối tượng cụ thể. • Kiểm toán tuân thủ: là việc kiểm tra nhằm đánh giá mức độ chấp hành một quy định nào đó, ví dụ như các văn bản pháp luật, hợp đồng kinh tế, các quy định của đơn vị,.Điển hình là cuộc kiểm tra của cơ quan thuế đối với doanh nghiệp, cuộc kiểm tra của kiểm toán nhà nước đối với các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước.