Tổng quan luận án
Tính trung thực và hợp lý của thông tin trình bày trên báo cáo tài chính chịu sự chi phối từ chất lượng dữ liệu, quy trình xử lý kế toán đến các yếu tố thuộc nhà quản lý và hệ thống pháp luật. Xã hội yêu cầu nâng cao tính độc lập của kiểm toán viên nhằm bảo đảm quá trình kiểm toán và ý kiến của kiểm toán viên không thiên vị, đồng thời nâng cao chất lượng kiểm toán vì tính độc lập là yếu tố thiết yếu cấu thành chất lượng kiểm toán. Vấn đề tính độc lập của kiểm toán viên trở thành tâm điểm sau hàng loạt vụ bê bối và sụp đổ tài chính lớn trên thế giới, bao gồm vụ công ty Polly Peck tại Anh (năm 1991, nợ 1,3 tỷ Bảng Anh, do BDO Stoy Hayward kiểm toán nhưng không đánh giá tính độc lập của công ty phụ Erdal & Co), công ty ComRoad AG tại Đức (năm 2002, do KPMG kiểm toán), công ty Satyam Computer Services Ltd tại Ấn Độ (năm 2009, do PwC India kiểm toán) và Tập đoàn Enron tại Hoa Kỳ (năm 2001, do Arthur Andersen kiểm toán).
Khoảng trống nghiên cứu thực tế tại Việt Nam cho thấy, dù hành lang pháp lý về kiểm toán độc lập đã được ban hành, số lượng nghiên cứu về các nhân tố tác động đến tính độc lập của kiểm toán viên còn ít và chưa có công trình nào đánh giá một cách toàn diện đa chiều các nhân tố phát sinh nguy cơ (tự kiểm tra, tư lợi, quen thuộc, đe dọa, tự biện hộ) cũng như các biện pháp bảo vệ.
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán (mã số 9340301) của tác giả Lê Đoàn Minh Đức, được bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2019 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Ngọc Dung và TS. Nguyễn Đình Hùng, đã tập trung giải quyết vấn đề này.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án:
- Mục tiêu chung: Khám phá và đo lường các nhân tố tác động đến tính độc lập của kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam.
- Mục tiêu cụ thể 1: Xác định các nhân tố tác động đến tính độc lập của kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam.
- Mục tiêu cụ thể 2: Kiểm định và đo lường sự tương quan giữa các nhân tố tác động và tính độc lập của kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1 (Q1): Các nhân tố nào tác động đến tính độc lập của kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam?
- Câu hỏi 2 (Q2): Mối quan hệ và mức độ tác động của các nhân tố đến tính độc lập của kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tính độc lập của các cá nhân có hoặc chưa có chứng chỉ hành nghề kiểm toán tham gia kiểm toán báo cáo tài chính (kiểm toán viên độc lập, giám đốc kiểm toán, trợ lý kiểm toán) đang làm việc tại các doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Địa bàn đặt trụ sở chính của 169 doanh nghiệp kiểm toán trên cả nước tính đến năm 2017–2018 (Miền Nam: 76 doanh nghiệp gồm TP.HCM 73, Bình Dương 2, Đồng Nai 1; Miền Bắc: 85 doanh nghiệp chủ yếu tại Hà Nội 83; Miền Trung: 8 doanh nghiệp). Khảo sát trực tiếp được thực hiện tại 3 địa bàn đại diện: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và tỉnh Bình Dương.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp thu thập từ Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) giai đoạn 2012–2018; dữ liệu sơ cấp thu thập qua phỏng vấn chuyên gia và khảo sát trong giai đoạn 2017–2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng kết các nghiên cứu quốc tế và trong nước về tính độc lập của kiểm toán viên theo 3 nhóm chủ đề và 4 cách tiếp cận chính:
-
Ba chủ đề nghiên cứu:
- Cấu trúc của tính độc lập: Pat Sucher và Katarzyna Kosmala-MacLullich (2004) nghiên cứu tại Trung Đông và Cộng hòa Séc; Mohammad Hudaib và Roszaini Haniffa (2009) khảo sát cấu trúc tính độc lập tại Ả Rập qua 3 cấp độ (vi mô, trung gian, vĩ mô).
- Tác động của tính độc lập đến chất lượng kiểm toán: DeAngelo (1981a), Previts và Merino (1998), Emmanuel Austin và Siriyama Kanthi Herath (2014) tổng kết 16 công trình giai đoạn 1992–2010; Tepalagul và Lin (2015) tổng kết các công trình trên 9 tạp chí chuyên ngành hàng đầu giai đoạn 1973–2013 với 4 nhóm nhân tố chính (tầm quan trọng của khách hàng, dịch vụ phi kiểm toán, nhiệm kỳ kiểm toán, mối quan hệ quen thuộc).
- Các nhân tố tác động trực tiếp đến tính độc lập của kiểm toán viên: Khảo sát 87 nghiên cứu tiêu biểu quốc tế trong 30 năm.
-
Bốn cách tiếp cận nghiên cứu:
- Tiếp cận kinh tế: Khảo sát các lợi ích kinh tế (phí kiểm toán, dịch vụ phi kiểm toán) chi phối mối quan hệ kiểm toán viên - khách hàng (DeAngelo, 1981a; Marshall A. Geiger và cộng sự).
- Tiếp cận hành vi: Khảo sát hành vi tương tác, sự thỏa hiệp hoặc bênh vực khách hàng (Goldman và Barlev, 1974).
- Tiếp cận rủi ro: Khảo sát động cơ và cơ hội phá vỡ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp (Johnstone và cộng sự, 2001; Turner và cộng sự, 2002).
- Tiếp cận theo khuôn mẫu: Tiếp cận theo các chuẩn mực nghề nghiệp và chuẩn mực đạo đức của IFAC/IESBA.
-
Tổng quan các nhân tố tác động trong tài liệu trước đây:
- Dịch vụ phi kiểm toán: Các nghiên cứu kết luận có tác động tiêu cực gồm Shockley (1981), Pany và Reckers (1983, 1988), Dahlia Robinson (2008), Haynes và cộng sự (1998), Jenkins và Lowe (2011), Allen D. Blay và Marshall A. Geiger (2013), Omri và Akrimi (2015), Liempd và cộng sự (2019). Ngược lại, các nghiên cứu kết luận không ảnh hưởng gồm Nicholas Dopuch và Ronald R. King (1991), Defond và cộng sự (2002), Ashbaugh và cộng sự (2003), Aloke Ghosh (2009), Joseph Callaghan và cộng sự (2009), Nicole Ratzinger-Sakel (2013).
- Mối quan hệ kiểm toán viên - khách hàng: Ping Ye và cộng sự (2011), Reiner Quick và Bent Warming-Rasmussen (2015), Eugene A. Imhoff (1978), Clive Lennox và Clear Water Bay (2005) chỉ ra nguy cơ suy giảm tính độc lập; trong khi Mautz và Sharaf (1961), Lennox và Chul W. Park (2007) nhấn mạnh vai trò của ủy ban kiểm toán.
- Nhiệm kỳ kiểm toán: Nhóm chỉ ra tác động gồm Raghunandan (2002), Joseph V. Carcello và Albert L. Nagy (2004), Wuchun Chi và cộng sự (2005), Bamber và Iyer (2007), Josep Garcia-Blandon và Josep Ma Argiles (2015), Daugherty và cộng sự (2012); nhóm không tìm thấy tương quan gồm Shockley (1981), Emiliano Ruiz-Barbadillo và cộng sự (2009), Si Wen Wang và David Hay (2013), Knechel và Vanstraelen (2007).
- Phí kiểm toán và sự phụ thuộc kinh tế: DeAngelo (1981), Jong-Hag Choi và cộng sự (2010), Asthana và Boone (2012), Chepkorir (2013), Bakar và cộng sự (2005), Hunt và Lulseged (2007); ngược lại có Robert P. Magee và Mei-Chiun Tseng (1990), Reynolds và Francis (2001), Craswell và cộng sự (2001), Chan Li (2009).
- Môi trường cạnh tranh, quy mô, danh tiếng và pháp lý: Shockley (1981), Yamani (1991), Hope và Langli (2010).
- Đặc tính cá nhân kiểm toán viên: Tính vị lợi (Armstrong, 2003; Ge và Thomas, 2008; Cohen và cộng sự, 1996; Modarres và cộng sự, 2011); Giới tính và tuổi nghề (Franke và cộng sự, 1997; Deshpande, 1997; Weeks và cộng sự, 1999; Larkin, 2000; Umar và Anandarajan, 2004); Đào tạo chuyên môn (Arens và Loebbecke, 2002; Gul và cộng sự, 2009).
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Giang Thị Xuyến (2010) khảo sát tại Kiểm toán Nhà nước; Nguyễn T Phương Hồng và Hà Hoàng Nhân (2015) khảo sát quan điểm của 3 nhóm đối tượng về 8 nhân tố; Thành Đức (2018) phân tích trách nhiệm nâng cao tính độc lập.
| Nhóm nhân tố tổng hợp |
Tác động ghi nhận từ nghiên cứu trước |
| Dịch vụ phi kiểm toán |
Không nhất quán (+ / - / không ảnh hưởng) |
| Mối quan hệ kiểm toán viên - khách hàng |
Không nhất quán |
| Nhiệm kỳ kiểm toán |
Không nhất quán |
| Giá phí và sự phụ thuộc kinh tế |
Không nhất quán |
| Môi trường cạnh tranh |
Tác động tiêu cực (-) |
| Quy mô doanh nghiệp kiểm toán |
Tác động tích cực (+) |
| Danh tiếng doanh nghiệp kiểm toán |
Tác động tích cực (+) |
| Môi trường pháp lý |
Không nhất quán |
| Đặc tính cá nhân kiểm toán viên |
Không nhất quán |
Khoảng trống luận án giải quyết: Chưa có công trình tại Việt Nam xây dựng mô hình toàn diện kết hợp đồng thời 3 tầng bậc: đặc tính cá nhân kiểm toán viên, môi trường tổ chức doanh nghiệp kiểm toán, và thể chế - hội nhập kinh tế quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khái niệm và khung phân tích
- Kiểm toán báo cáo tài chính: Luận án tiếp cận theo định nghĩa của Alvin A. Arens và cộng sự (1997), ISA 200 và VSA 200. Kiểm toán mang các đặc tính dịch vụ: vô hình, không tách rời, biến đổi và không dự trữ (Phillip Kotler, 2012).
- Tính độc lập của kiểm toán viên: Luận án sử dụng quy định của IESBA (2016), IFAC (2016) và Bộ Tài chính (2015), gồm hai thành phần cấu thành:
- Độc lập về tư tưởng: Trạng thái tư tưởng cho phép đưa ra kết luận không bị tác động bởi các yếu tố ảnh hưởng đến xét đoán chuyên môn, giữ vững tính chính trực, khách quan và hoài nghi nghề nghiệp.
- Độc lập về hình thức: Tránh các sự kiện, tình huống khiến bên thứ ba có đầy đủ thông tin kết luận rằng tính chính trực và khách quan đã bị tổn hại. Năm nhóm nguy cơ chính gồm: tư lợi, tự kiểm tra, quan hệ ruột thịt (thân quen), tự bào chữa và bị đe dọa.
| Thước đo tính độc lập trong nghiên cứu |
Tác giả tiêu biểu |
| Xu hướng phát hành ý kiến hoạt động liên tục |
Lennox (1999); DeFond và cộng sự (2002) |
| Sự trình bày lại thu nhập |
Schmidt (2012); Raghunandan và cộng sự (2001) |
| Các khoản dồn tích bất thường |
DeFond và Jiambalvo (1994); Francis và cộng sự (1999); Gul và cộng sự (2007) |
| Điểm chuẩn thu nhập |
Frankel và cộng sự (2002); Ashbaugh và cộng sự (2003) |
| Xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên |
Windsor và Ashkanasy (1995); Lord và DeZoort (2001) |
| Cảm nhận/Nhận thức của người sử dụng |
Firth (1980); Shockley (1981); Knapp (1985); Damai Nasution (2013) |
Các lý thuyết nền tảng
Luận án vận dụng 3 nhóm lý thuyết giải thích:
- Nhóm lý thuyết về nhận thức, động cơ và hành vi cá nhân: Lý thuyết ủy nhiệm (Spence và Zeckhauser, 1971; Ross, 1973; DeAngelo, 1981a); Lý thuyết hành vi tổ chức (Steven Lattimore McShane và Mary Ann Von Glinow, 2003, 2017); Lý thuyết vị lợi (Epicurus, Jeremy Bentham, John Stuart Mill); Lý thuyết vai trò xã hội (Franke và cộng sự, 1997); Lý thuyết chức năng tôn giáo (Huffman, 1988; Donald Light và cộng sự, 1989).
- Nhóm lý thuyết về môi trường doanh nghiệp kiểm toán: Lý thuyết hợp quy (Suchman, 1995; Lindblom, 1994; Deegan, 2006; Pfeffer và Salancik, 2003; Michael Power, 2003; Rani Afrem, 2012); Lý thuyết bản sắc xã hội (Henri Tajfel).
- Nhóm lý thuyết về thể chế, phát triển và hội nhập: Lý thuyết lập quy và lợi ích xã hội (Jayne Godfrey và cộng sự, 2003); Lý thuyết hòa hợp quốc tế (Leo G. van der Tas, 1988; Tay và Parker, 1990).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp tuần tự:
- Nghiên cứu định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm tập trung với các chuyên gia kiểm toán (Phụ lục 2, 3, 4) nhằm sàng lọc, điều chỉnh thang đo từ lý thuyết phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
- Nghiên cứu định lượng: Sử dụng khảo sát bảng câu hỏi đối với các nhóm đối tượng (kiểm toán viên, giám đốc kiểm toán, trợ lý kiểm toán). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê qua các bước: thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson, phân tích hồi quy đa biến theo phương pháp Enter, và kiểm định ANOVA cùng các biểu đồ kiểm tra phần dư (Histogram, Normal P-P Plot, Scatter Plot).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về tính độc lập kiểm toán viên. Tác giả phân tích 87 công trình nghiên cứu quốc tế trong 30 năm qua 4 hướng tiếp cận (kinh tế, hành vi, rủi ro, khuôn mẫu chuẩn mực) và 3 chủ đề lớn. Chương này chỉ rõ sự thiếu đồng nhất trong kết quả thực nghiệm về tác động của các nhân tố (như dịch vụ phi kiểm toán, nhiệm kỳ, giá phí) do sự khác biệt về bối cảnh kinh tế - xã hội. Qua việc điểm luận các nghiên cứu trong nước (Giang Thị Xuyến, 2010; Nguyễn T Phương Hồng và Hà Hoàng Nhân, 2015; Thành Đức, 2018), chương 1 xác lập khoảng trống khoa học và định hình mục tiêu nghiên cứu toàn diện tại Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tính độc lập của kiểm toán viên
Chương 2 trình bày khung lý thuyết nền tảng cho luận án. Tác giả chuẩn hóa các khái niệm về kiểm toán báo cáo tài chính, đặc điểm dịch vụ kiểm toán, và cấu trúc hai mặt của tính độc lập (tư tưởng và hình thức) theo chuẩn mực IESBA, IFAC và Bộ Tài chính Việt Nam. Chương 2 phân tích chi tiết 3 nhóm lý thuyết giải thích cơ chế tác động: nhóm lý thuyết hành vi và động cơ cá nhân (lý thuyết ủy nhiệm, lý thuyết hành vi tổ chức, lý thuyết vị lợi, lý thuyết vai trò xã hội, lý thuyết chức năng tôn giáo); nhóm lý thuyết tổ chức (lý thuyết hợp quy, lý thuyết bản sắc xã hội); và nhóm lý thuyết vĩ mô (lý thuyết lập quy, lý thuyết hòa hợp quốc tế). Đồng thời, chương 2 tổng hợp các phương pháp đo lường tính độc lập đã được sử dụng trong nghiên cứu thực nghiệm kế toán - kiểm toán.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 thiết lập khung phân tích, quy trình nghiên cứu hai giai đoạn và xây dựng hệ thống giả thuyết nghiên cứu chia làm 3 nhóm: nhóm giả thuyết đặc tính cá nhân kiểm toán viên, nhóm giả thuyết môi trường doanh nghiệp kiểm toán, và nhóm giả thuyết thể chế. Chương này mô tả chi tiết thiết kế nghiên cứu định tính (nguồn số liệu chuyên gia, quy trình thảo luận nhóm) để hiệu chỉnh thang đo, và thiết kế nghiên cứu định lượng (quy trình chọn mẫu khảo sát tại TP.HCM, Hà Nội, Bình Dương, cấu trúc bảng hỏi thang đo Likert). Các công cụ kiểm định được xác định cụ thể gồm Cronbach's Alpha, phân tích EFA cho biến độc lập và phụ thuộc, mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (OLS Enter), và phân tích sai biệt ANOVA.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 4 trình bày các phát hiện thực nghiệm của luận án:
- Thực trạng kiểm toán độc lập tại Việt Nam: Phân tích số liệu thứ cấp giai đoạn 2012–2018 về mạng lưới 169 doanh nghiệp kiểm toán, số lượng kiểm toán viên hành nghề, vai trò của VACPA, kết quả kiểm tra chất lượng kiểm toán của Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán (Bộ Tài chính) và UBCKNN, cùng các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp và tính độc lập thực tế.
- Kết quả nghiên cứu định tính: Tổng hợp kết quả thảo luận nhóm chuyên gia, hoàn thiện danh mục thang đo các biến quan sát phù hợp với môi trường hành nghề tại Việt Nam.
- Kết quả nghiên cứu định lượng: Trình bày thống kê mô tả mẫu khảo sát (độ tuổi, kinh nghiệm làm việc, trình độ chuyên môn, thu nhập, giới tính); kết quả đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha; kết quả EFA trích xuất các nhân tố đại diện; kết quả hồi quy đa biến và bảng phân tích ANOVA kiểm định mô hình. Tác giả tiến hành bàn luận chi tiết về chiều hướng tác động của từng nhân tố, xác nhận việc chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết thuộc 3 nhóm (cá nhân, doanh nghiệp, thể chế), và xác lập bảng thứ tự mức độ tác động của các nhân tố đến tính độc lập của kiểm toán viên.
Chương 5: Kết luận và hàm ý
Chương 5 đúc kết các kết luận khoa học rút ra từ toàn bộ quá trình nghiên cứu. Trên cơ sở kết quả hồi quy và bàn luận ở chương 4, tác giả đề xuất hệ thống hàm ý chính sách và giải pháp cụ thể:
- Nhóm nhân tố cá nhân: Định hướng giáo dục đạo lý nghề nghiệp, kiểm soát tính vị lợi, đào tạo kỹ năng chuyên sâu theo ngành nghề, và xem xét thâm niên, vị trí công tác.
- Nhóm nhân tố doanh nghiệp kiểm toán: Quy định kiểm soát việc cung cấp dịch vụ phi kiểm toán, quản lý quan hệ khách hàng, luân chuyển kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán, kiểm soát chính sách giá phí, hoàn thiện quản trị công ty tại doanh nghiệp kiểm toán, và ứng phó cạnh tranh thị trường.
- Nhóm nhân tố thể chế và hội nhập: Hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng cường giám sát của UBCKNN và VACPA, quản lý rủi ro pháp lý hành nghề, và thúc đẩy hội nhập quốc tế.
- Hàm ý cho các bên liên quan khác: Đề xuất cho đơn vị được kiểm toán, nhà đầu tư sử dụng báo cáo tài chính, và các cơ sở đào tạo đại học. Cuối chương, tác giả trình bày các hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận
- Khung tiếp cận nghiên cứu toàn diện: Luận án xây dựng mô hình tiếp cận đa tầng bậc khi nghiên cứu tính độc lập của kiểm toán viên tại Việt Nam, tích hợp đồng thời từ cấp độ vi mô (đặc tính cá nhân kiểm toán viên), cấp độ trung gian (môi trường doanh nghiệp kiểm toán) đến cấp độ vĩ mô (thể chế pháp lý, phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế).
- Khám phá các nhân tố mới và hiệu chỉnh thang đo: Bên cạnh việc kiểm chứng lại các nhân tố truyền thống từ y văn quốc tế, luận án đã phát hiện và bổ sung các nhân tố mới phù hợp với bối cảnh chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam:
- Nhóm đặc tính cá nhân: Tính vị lợi, đạo lý và tính ích kỷ; Thâm niên và vị trí công tác; Học tập, đào tạo và kỹ năng chuyên sâu theo từng ngành nghề; Tôn giáo.
- Nhóm môi trường doanh nghiệp kiểm toán: Nhiệm kỳ của công ty kiểm toán; Nhiệm kỳ của trợ lý kiểm toán; Quản trị công ty kiểm toán.
- Nhóm thể chế và hội nhập: Tác động từ phát triển kinh tế và quá trình hội nhập quốc tế.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp
- Đánh giá thực trạng có căn cứ: Phản ánh bức tranh thực trạng về mạng lưới doanh nghiệp kiểm toán, đội ngũ nhân sự hành nghề, và kết quả thanh tra, kiểm tra chất lượng kiểm toán của Bộ Tài chính, VACPA và UBCKNN giai đoạn 2012–2018.
- Hệ thống hàm ý chính sách đa chiều: Luận án đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm duy trì và nâng cao tính độc lập của kiểm toán viên:
- Đối với kiểm toán viên: Tự rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, kiểm soát tính vị lợi và nâng cao chuyên môn hóa ngành.
- Đối với doanh nghiệp kiểm toán: Thiết lập hệ thống kiểm soát chất lượng nội bộ, luân chuyển định kỳ kiểm toán viên lẫn trợ lý kiểm toán, minh bạch hóa chính sách giá phí, hạn chế cung cấp dịch vụ phi kiểm toán có rủi ro tự kiểm tra cho khách hàng kiểm toán.
- Đối với cơ quan quản lý và hội nghề nghiệp (Bộ Tài chính, UBCKNN, VACPA): Nâng cao hiệu lực kiểm tra chất lượng kiểm toán, công khai các sai phạm, hoàn thiện quy định pháp lý về nhiệm kỳ kiểm toán và quy tắc đạo đức nghề nghiệp.
- Đối với cơ sở đào tạo, nhà đầu tư và khách hàng kiểm toán: Tăng cường giáo dục đạo đức nghề nghiệp kế toán - kiểm toán tại các trường đại học, nâng cao vai trò giám sát độc lập của ủy ban kiểm toán tại doanh nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp khung lý thuyết đa tầng, hệ thống tổng quan tài liệu 87 công trình quốc tế, cùng quy trình thiết kế nghiên cứu hỗn hợp tuần tự và bộ thang đo hoàn chỉnh về tính độc lập kiểm toán.
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Cung cấp tài liệu tham khảo cho môn học Kiểm toán, Kiểm toán nâng cao và Đạo đức nghề nghiệp; định hướng tích hợp nội dung rèn luyện đạo đức và chuyên môn hóa theo ngành nghề vào chương trình đào tạo.
- Đối với doanh nghiệp kiểm toán và kiểm toán viên: Cung cấp căn cứ thực tế để nhận diện các tình huống đe dọa tính độc lập (áp lực giá phí, dịch vụ phi kiểm toán, mối quan hệ thân quen) và thiết lập cơ chế kiểm soát chất lượng nội bộ.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN) và Hội nghề nghiệp (VACPA): Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm để hoạch định chính sách quản lý hành nghề, hoàn thiện quy chế luân chuyển kiểm toán viên và tăng cường giám sát tuân thủ chuẩn mực đạo đức.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa tính độc lập của kiểm toán viên gồm những thành phần nào và chịu những nguy cơ đe dọa nào?
Theo luận án (dựa trên IESBA 2016, IFAC 2016 và Bộ Tài chính 2015), tính độc lập gồm hai thành phần: độc lập về tư tưởng (trạng thái tâm lý giữ vững tính chính trực, khách quan, hoài nghi nghề nghiệp) và độc lập về hình thức (tránh các hoàn cảnh khiến bên thứ ba đánh giá tính khách quan bị tổn hại). Năm nguy cơ chính đe dọa tính độc lập gồm: tư lợi, tự kiểm tra, quan hệ ruột thịt (thân quen), tự bào chữa và bị đe dọa.
2. Những nhân tố mới nào được luận án phát hiện và đưa vào mô hình nghiên cứu tại Việt Nam?
Luận án phát hiện các nhân tố mới gồm: (i) Nhóm đặc tính cá nhân kiểm toán viên: Tính vị lợi, đạo lý và tính ích kỷ; Thâm niên và vị trí công tác; Học tập, đào tạo và kỹ năng chuyên sâu theo ngành nghề; Tôn giáo; (ii) Nhóm môi trường doanh nghiệp kiểm toán: Nhiệm kỳ công ty kiểm toán; Nhiệm kỳ trợ lý kiểm toán; Quản trị công ty kiểm toán; (iii) Nhóm thể chế: Phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.
3. Mẫu khảo sát định lượng và dữ liệu thực tế của luận án được thu thập như thế nào?
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo kiểm tra chất lượng của Bộ Tài chính, UBCKNN và VACPA giai đoạn 2012–2018 trên tổng thể 169 doanh nghiệp kiểm toán cả nước. Dữ liệu sơ cấp được khảo sát trong giai đoạn 2017–2018 tại 3 địa bàn trọng điểm (TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương) đối với các nhóm kiểm toán viên hành nghề, giám đốc kiểm toán và trợ lý kiểm toán.
4. Luận án sử dụng những nhóm lý thuyết nền tảng nào để xây dựng giả thuyết nghiên cứu?
Luận án sử dụng 3 nhóm lý thuyết: (1) Nhóm nhận thức, động cơ và hành vi cá nhân (Lý thuyết ủy nhiệm, Lý thuyết hành vi tổ chức, Lý thuyết vị lợi, Lý thuyết vai trò xã hội, Lý thuyết chức năng tôn giáo); (2) Nhóm môi trường tổ chức (Lý thuyết hợp quy, Lý thuyết bản sắc xã hội); (3) Nhóm thể chế (Lý thuyết lập quy, Lý thuyết hòa hợp quốc tế).
5. Luận án đề xuất giải pháp gì đối với nhiệm kỳ kiểm toán và dịch vụ phi kiểm toán?
Luận án đề xuất cần kiểm soát chặt chẽ việc cung cấp các dịch vụ phi kiểm toán có tính chất tự kiểm tra đối với khách hàng đang kiểm toán báo cáo tài chính; đồng thời thực hiện chính sách luân chuyển định kỳ không chỉ đối với kiểm toán viên ký báo cáo kiểm toán mà còn đối với cả trợ lý kiểm toán và doanh nghiệp kiểm toán để hạn chế nguy cơ từ sự quen thuộc.
Kết luận
Luận án của tác giả Lê Đoàn Minh Đức là công trình nghiên cứu chuyên sâu về các nhân tố tác động đến tính độc lập của kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp định tính và định lượng trên nền tảng hệ thống lý thuyết đa tầng bậc, luận án đã xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tố từ đặc tính cá nhân, môi trường tổ chức đến thể chế quản lý. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc ban hành các chính sách kiểm soát chất lượng kiểm toán, hoàn thiện quy định nghề nghiệp và nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính tại Việt Nam.