Chương 1 được thực hiện nhằm hướng đến góc nhìn tổng quát về các nội dung phù hợp với chủ đề nghiên cứu. Khảo lược các nghiên cứu trước làm tiền đề cho tác giả xác định được khoảng trống nghiên cứu và tiến hành lựa chọn triển khai PPNC thích hợp. Tổng quan nghiên cứu về TĐLKiTV Có nhiều nghiên cứu trên thế giới về TĐLKiTV. Theo tác giả tổng kết nghiên cứu trước được chia thành 3 chủ đề nghiên cứu chính sau: (i) Chủ đề nghiên cứu thứ nhất nghiên cứu cấu trúc của TĐLKiTV.
Phạm trù các nghiên cứu khảo lược này cấu thành nên khái niệm TĐLKiTV theo bối cảnh, ngữ cảnh cụ thể. Các nghiên cứu tiêu biểu có thể nêu ra bao gồm: Pat Sucher và Katarzyna Kosmala-MacLullich (2004) xác định các cấu trúc TĐLKiTV trong bối cảnh tại các nước Trung Đông và Cộng Hòa Séc. Từ đây, bức tranh về áp lực kinh tế, xã hội và văn hóa dường như vượt trội hơn bất kỳ biện pháp tự vệ chính thức nào được thực hiện để duy trì tính chính trực và năng lực chuyên môn trong khu vực Trung và Đông Âu (CEE). Mohammad Hudaib và Roszaini Haniffa (2009) nghiên cứu cấu trúc TĐLKiTV tại Ả Rập.
Các tác giả chứng minh rằng KiTV xây dựng ý nghĩa tính độc lập về hình thức và thực tế thông qua các tương tác xã hội của họ ở ba cấp độ: vi mô (cá tính tự phản chiếu thông qua lý luận đạo đức và danh tiếng của KiTV); trung gian (văn hóa tổ chức thông qua các hoạt động thương mại và quản lý) và vĩ mô (Thông qua cấu trúc chính trị, luật pháp, và cấu trúc kinh tế xã hội). (ii) Chủ đề nghiên cứu thứ hai nghiên cứu TĐLKiTV ảnh hưởng đến CLKiT. Các nghiên cứu kết luận TĐLKiTV là một thành phần thiết yếu, cấu thành nên chất lượng của hoạt động kiểm toán. Nhiều nghiên cứu tiêu biểu liên quan được kể đến như sau: DeAngelo (1981a) và Previts & Merino (1998) cho thấy TĐLKiTV liên quan mật thiết đến CLKiT.
Bên cạnh đó, Emmanuel Austin và Siriyama Kanthi Herath luan an 8 (2014) tổng kết 16 công trình trong khoảng 1992 – 2010 về TĐLKiTV, các tác giả rút ra kết luận tính độc lập là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của nghề kiểm toán, được đo lường bằng cách KiTV trung thực trong việc báo cáo các chênh lệch trọng yếu trên BCTC của nhà quản lý. Hơn nữa, Tepalagul và Lin (2015) tổng kết những bài báo về các nhân tố tác động của TĐLKiTV và CLKiT đã công bố trên 9 tạp chí chuyên ngành hàng đầu từ năm 1973-2013. Các tác giả trình bày 4 nhân tố: Tầm quan trọng của khách hàng, DVPKiT, nhiệm kỳ kiểm toán, mối quan hệ quen thuộc của khách hàng được kiểm toán và DNKiT, các nhân tố này làm cho TĐLKiTV chịu sự tác động, cũng như CLKiT bị ảnh hưởng. (iii) Chủ đề nghiên cứu thứ ba nghiên cứu các nhân tố có tác động trực tiếp đến TĐLKiTV.
Nội dung chi tiết và các kết quả nghiên cứu thuộc chủ đề này nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài do đó sẽ được làm rõ trong các nội dung tiếp theo trong chương này. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố tác động đến TĐLKiTV Tác giả đã tiến hành khảo sát các nghiên cứu liên quan được lưu trữ hoặc công bố dưới dạng các bài báo, luận văn, luận án…Các tài liệu này có thể lưu trữ dưới dạng hồ sơ giấy hoặc hồ sơ điện tử trong vòng 30 năm trở lại đây. Nguồn tài liệu chủ yếu khai thác qua các thư viện, cơ sở dữ liệu toàn văn, các trang tin điện tử (Website). Tác giả đã lựa chọn 87 nghiên cứu tiêu biểu dựa trên tiêu chí phân loại về chủ đề nghiên cứu (Nội dung về phương pháp nghiên cứu và tóm tắt các nghiên cứu chính được trình bày tại Phụ lục 6).
Tiếp cận nghiên cứu Có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố có tác động đến TĐLKiTV, trong đó các tác giả đã nghiên cứu một nhân tố, hoặc một vài nhân tố tác động đến TĐLKiTV theo những cách tiếp cận khác nhau. Thông thường các nghiên cứu thực hiện theo một trong bốn cách tiếp cận sau đây: luan an 9 1. Tiếp cận kinh tế Theo cách tiếp cận này, mối quan hệ KiTV-Khách hàng dựa trên quan hệ kinh tế thông qua việc ký kết hợp đồng và thực hiện dịch vụ. Doanh nghiệp mong muốn BCTC của họ minh bạch và đáng tin cậy hơn.
Đồng thời, KiTV là bên nhận được lợi ích từ phí kiểm toán do khách hàng chi trả. Từ đó, có khả năng KiTV phụ thuộc vào khách hàng và dẫn đến các nhân tố mang tính lợi ích kinh tế giữa hai bên như giá phí dịch vụ kiểm toán, DVPKiT ảnh hưởng đến TĐLKiTV. Các nghiên cứu tiêu biểu cho cách tiếp cận này: DeAngelo (1981a), Marshall A. Tiếp cận hành vi KiTV và khách hàng có quan hệ, trao đổi, tương tác khi thực hiện kiểm toán.
Ở hướng tiếp cận này, các nghiên cứu (như nghiên cứu của Goldman và Barlev, 1974) đi vào các hành vi tương tác KiTV-khách hàng được kiểm toán mà có tác động đến TĐLKiTV, ví dụ như sự lựa chọn, chỉ định KiTV, nhiệm kỳ kiểm toán, khả năng KiTV bênh vực khách hàng … 1. Tiếp cận rủi ro Rủi ro về tính độc lập đến từ động cơ khiến cho các KiTV phá vỡ các nguyên tắc ĐĐNN hoặc cơ hội là các tình huống khiến cho KiTV đưa ra các đánh giá chuyên môn bị thiên vị và thiếu sự chính trực (thiếu tính toàn vẹn đạo đức của KiTV). Các nghiên cứu theo hướng này đi vào nghiên cứu các mô hình rủi ro phức tạp về TĐLKiTV. Nghiên cứu tiêu biểu như: Johnstone & cộng sự (2001); Turner & cộng sự (2002)… 1.
Tiếp cận theo khuôn mẫu Những nghiên cứu gần đây thường dùng phương pháp tiếp cận theo khuôn mẫu về TĐLKiTV, khuôn mẫu này thông thường được quy định, hướng dẫn trong các CMKiT, chuẩn mực ĐĐNN (như của IFAC). Cách tiếp cận này có thể bao hàm góc nhìn toàn diện hơn về TĐLKiTV vì theo cách thức này sẽ đi từ các nguyên tắc đạo đức cơ bản hình thành nên TĐLKiTV. Các nhân tố tác động đến TĐLKiTV 1.1 Dịch vụ phi kiểm toán DNKiT đương nhiệm đang trong quá trình kiểm toán cho 1 khách hàng và có thể đảm nhiệm thêm dịch vụ khác là DVPKiT. DNKiT sau khi ký hợp đồng DVPKiT sẽ giao cho các nhân viên đảm nhận.
Các nhân viên này có thể cùng làm việc hoặc không cùng trong một nhóm kiểm toán đương nhiệm. DNKiT được cung ứng dịch vụ khác không thuộc hoạt động kiểm toán: Tư vấn về thuế, cổ phần hóa, hoạt động quản lý, hệ thống thông tin; kiểm soát nội bộ; đào tạo; hỗ trợ pháp lý… DVPKiT có khả năng dẫn đến nhiều rủi ro làm tổn hại đến TĐLKiTV như: Nguy cơ tự kiểm tra hay là tư lợi. Bởi vì KiTV ít thận trọng hơn khi chính bản thân là người phụ trách công việc gắn liền trực tiếp đến sự trình bày số liệu trên BCTC hoặc KiTV thiên vị vì lợi ích cá nhân từ doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng có nhiều loại dịch vụ không ảnh hưởng, thậm chí còn hỗ trợ CLKiT gia tăng từ sự lan tỏa kiến thức.
Trong từng bối cảnh khác biệt, kết quả nghiên cứu được tìm thấy là khác nhau. Một số minh họa tiêu biểu sau: a. Các nghiên cứu kết luận tính độc lập bị ảnh hưởng tiêu cực từ hoạt động phi kiểm toán Ở từng loại hoạt động phi kiểm toán nếu DNKiT cùng đảm nhiệm các dịch vụ này với hoạt động KiTBCTC thì làm giảm TĐLKiTV: Dịch vụ tư vấn các công việc về quản lý: Nghiên cứu của Shockley, R. Dịch vụ thiết kế hệ thống: Nghiên cứu của Pany K và P.
Dịch vụ tư vấn thuế: Nghiên cứu của Dahlia Robinson (2008). Dịch vụ hỗ trợ kiện tụng: Haynes & cộng sự (1998); Brody và Masselli (1996); Trompeter (1994); Crain & cộng sự (1994); Ponemon (1995); Jere R. Francis và Bin Ke (2006); Shaub (2004) và nghiên cứu của Jenkins, Lowe (2011). Gần đây, nghiên cứu của Liempd.
D và cộng sự (2019) cũng kết luận từng hoạt động phi kiểm toán cụ thể có thể ảnh hưởng tiêu cực với mức độ khác nhau đến TĐLKiTV. luan an 11 Không xét về loại dịch vụ thì mức phí của DVPKiT khi DNKiT cùng đảm nhiệm các dịch vụ này thì làm giảm TĐLKiTV: Allen D. Blay và Marshall A. Geiger (2013); Titus, Muturi và Kabiru (2014); Omri và Akrimi (2015) trình bày phí DVPKiT làm sụt giảm tính độc lập, đặc biệt là đối với khách hàng có tình hình hoạt động kinh doanh kém (Kang, S.
và cộng sự, 2018). Các nghiên cứu kết luận DVPKiT không làm yếu đi TĐLKiTV. Các nghiên cứu này hầu như không đi vào chi tiết từng DVPKiT. TĐLKiTV không bị ảnh hưởng gì từ sự tác động của các công việc được thực hiện dưới dạng phi kiểm toán (Nicholas Dopuch & Ronald R.
King, 1991; Nicole Ratzinger-Sakel, 2013) và hơn nữa, thị trường kiểm toán sẽ bị bất lợi nếu nhà chính sách hạn chế hoặc thậm chí ngăn cấm cung cấp các dịch vụ này (Nicholas Dopuch & Ronald R. Với kết quả tương tự, Mark L. Defond & cộng sự (2002), Hollis Ashbaugh & cộng sự (2003), Aloke (Al) Ghosh (2009) kết luận tính độc lập không bị chi phối đáng kể từ giá phí dịch vụ được cung cấp theo hình thức phi kiểm toán. Bên cạnh đó, tiền phí của DVPKiT cũng không ảnh hưởng nhiều đến việc KiTV phát hành BCKiT dưới dạng chấp nhận toàn phần (Joseph Callaghan và cộng sự, 2009).
Các KiTV có cảm nhận khác nhau về sự ảnh hưởng tiêu cực của DVPKiT đến tính độc lập trong mối quan hệ với quy mô DNKiT của họ đang làm việc, sự ảnh hưởng tiêu cực có khả năng nảy sinh đáng kể khi họ làm việc trong DNKiT có quy mô nhỏ (Philip Beaulieu và Alan Reinstein, 2010). Mối quan hệ KiTV-khách hàng Có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ KiTV- khách hàng. Với những nghiên cứu này, có bằng chứng hỗn hợp tác động tới TĐLKiTV và CLKiT. Trong các giai đoạn kiểm toán, KiTV đương nhiệm sẽ tiếp xúc và làm việc với các nhân sự cấp cao của khách hàng (như Ban giám đốc, trưởng các bộ phận liên quan…), và nhân viên đang có vị trí quan trọng mà có thể có sự quyết định đối với việc hạch toán kế toán cũng như lập BCTC.
Sự tiếp xúc nào có thể tạo ra mối quan hệ quen thuộc. Một số nghiên cứu khám phá rằng mối quan hệ này làm ảnh hưởng đến TĐLKiTV và CLKiT như các nghiên cứu của Ping Ye và cộng sự (2011), Reiner luan an 12 Quick và Bent Warming-Rasmussen (2015) cho kết luận nguy cơ quen thuộc cao và nguy cơ tự kiểm tra cao cũng có thể làm suy yếu TĐLKiTV về mặt hình thức.