MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kiểm toán đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát hành BCTC có chất lƣợng cao bởi chức năng cơ bản của kiểm toán tài chính là xác minh tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên BCTC. Chính vì vậy, với sự phát triển vƣợt bậc của nền kinh tế thị trƣờng hiện này thì hoạt động kiểm toán đã và đang giữ một vai trò trung tâm, đem lại niềm tin cho những ngƣời sử dụng BCTC của doanh nghiệp. Tuy nhiên, niềm tin của những ngƣời sử dụng CTC đang ngày càng sụt giảm khi mà hàng loạt vụ bê bối trên thế giới liên quan đến trách nhiệm của KTV xảy ra nhƣ: vụ phá sản của Tập đoàn Năng lƣợng Enron (năm 2001) dẫn đến sự phá sản của Hãng kiểm toán hàng đầu thế giới Arthur Andersen năm 2002, sau khi Hãng này phải chịu án phạt nửa triệu USD, đồng thời chấp nhận phá sản do không còn uy tín trên thị trƣờng chứng khoán.
Tiếp sau sự sụp đổ của Arthur Andersen là hàng loạt vụ bê bối khác của các công ty kiểm toán độc lập đã đƣợc phanh phui liên quan đến việc đƣa ra ý kiếm không xác đáng về BCTC, nhƣ sự phá sản của Tập đoàn viễn thông Worldcom (cũng do Arthur Andersen kiểm toán), hay của Tập đoàn phần mềm Satyam (do PriceWaterhouse Coopers kiểm toán)… Tại Việt Nam cũng xảy ra những trƣờng hợp liên quan đến độ tin cậy của thông tin trên các CTC dù đã đƣợc kiểm toán nhƣ Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết, Công ty Cổ phần Dƣợc Viễn Đông… cũng khiến các nhà đầu tƣ phải gánh chịu những tổn thất kinh tế. Niềm tin sụt giảm, sự hoài nghi và không tin tƣởng vào hoạt động kiểm toán dần hiện hữu trong nhận thức của ngƣời sử dụng CTC là điều hiển nhiên. Đó là thực trạng của KTV và các công ty kiểm toán hiện nay, còn về phía ngƣời sử dụng BCTC, có rất nhiều ngƣời sử dụng BCTC đang hiểu sai về bản chất cuộc kiểm toán cũng Luan van 2 nhƣ ý kiến mà kiểm toán viên đƣa ra. Một số ngƣời quá chú trọng đến báo cáo tài chính đã đƣợc kiểm toán đính kèm báo cáo kiểm toán mà quên mất ý kiến quan trọng của kiểm toán viên.
Một số lại cho rằng ý kiến chấp nhận toàn phần có nghĩa là báo cáo tài chính đƣợc kiểm toán là hoàn hảo, chính xác và đơn vị đƣợc kiểm toán đã tuân thủ đúng chuẩn mực và chế độ kế toán … Trong khi đó, CTC đƣợc lập dựa trên nhiều giả định và tồn tại nhiều ƣớc tính kế toán. Do vậy, KTV không thể khẳng định tính chính xác tuyệt đối của BCTC. Ngoài ra, KTV không có trách nhiệm phát hiện tất cả các sai sót tồn tại trong BCTC của doanh nghiệp, KTV chỉ thực hiện cuộc kiểm toán dựa trên mức trọng yếu đã đƣợc xây dựng trong lập kế hoạch kiểm toán. Nhƣ vậy, sự khác biệt về nhận thức và kỳ vọng giữa KTV, công ty kiểm toán thực hiện hoạt động kiểm toán và những ngƣời sử dụng CTC đối với hoạt động kiểm toán đã góp phần hình thành nên khoảng cách kỳ vọng trong hoạt động kiểm toán BCTC.
Khoảng cách kỳ vọng là một vấn đề có ý nghĩa đối với lĩnh vực kinh tế nói riêng và với toàn xã hội nói chung, vì vậy việc nghiên cứu lý thuyết này sẽ giúp chỉ ra những yêu cầu thực tế mà xã hội đòi hỏi đối với hoạt động kiểm toán, nhận thức của ngƣời sử dụng CTC cũng nhƣ nhận thức của KTV về trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, từ đó có những biện pháp phù hợp nhằm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng. Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “ Đo lƣờng khoảng cách kỳ vọng trong hoạt động kiểm toán Báo cáo tài chính ở Việt Nam” này để nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình. Vì hạn chế về thời gian và năng lực của bản thân, nên tác giả chƣa đƣa ra đƣợc phƣơng pháp cũng nhƣ kết quả đo lƣờng khoảng cách kỳ vọng mà chỉ mới dừng lại ở chứng minh sự tồn tại và chỉ ra các trách nhiệm có tồn tại khoảng cách kỳ vọng. Hạn chế này sẽ mở ra những hƣớng nghiên cứu chuyên sâu về sau góp phần mở rộng thêm đề tài này tại Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chính của đề tài là tìm ra bằng chứng cho thấy tồn tại khoảng cách kỳ vọng trong hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số ý kiến nhằm thu hẹp khoảng cách này. Từ mục tiêu nghiên cứu, tác giả đƣa ra 2 câu hỏi nghiên cứu nhƣ sau: (1) Liệu có tồn tại sự khác biệt trong nhận thức của kiểm toán viên và ngƣời sử dụng BCTC (khoảng cách kỳ vọng) ở Việt Nam đối với trách nhiệm kiểm toán? (2) Nếu có thì trách nhiệm nào của kiểm toán viên tồn tại khoảng cách kỳ vọng? 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là khoảng cách kỳ vọng trong hoạt động kiểm toán BCTC. Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm: - Địa điểm nghiên cứu: Những vấn đề liên quan đến khảo sát đo lƣờng thực trạng khoảng cách kỳ vọng đƣợc thực hiện tại một số công ty kiểm toán nhƣ tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng; Sàn giao dịch chứng khoán tại Sài Gòn; và một số Ngân hàng tại Đà Nẵng.
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài đƣợc thực hiện trong vòng 5 tháng kể từ tháng 02 năm 2016 đến tháng 04 năm 2016. Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng trong bài là phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng, cụ thể là tác giả sẽ thu thập tài liệu sơ cấp từ các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về đối tƣợng nghiên cứu qua các báo cáo, tạo chí, bài báo, thu thập tài liệu thứ cấp thông qua phiếu điều tra …. Sau đó tiến hành thiết kế bảng câu hỏi dựa trên các bảng câu hỏi đã đƣợc các nghiên cứu khác thiết kế, và có sự điều chỉnh phù hợp với mục tiêu, phạm vi nghiên cứu của Luan van 4 tác giả. Từ bảng câu hỏi, tiến hàng phỏng vấn, thu thập số liệu, phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16, đánh giá về thực trạng khoảng cách kỳ vọng trong hoạt động kiểm toán ở Việt Nam và đƣa ra các đề xuất nhằm giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng này.
Bố cục đề tài Bố cục của đề tài gồm có 03 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về khoảng cách kỳ vọng trong hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính - Chƣơng 2: Giả thiết và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và một số kiến nghị nhằm giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng trong hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính ở Việt Nam. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Hoạt động kiểm toán không chỉ đơn thuần đƣa ra ý kiến mà còn xác minh các thông tin tài liệu tài chính kế toán và tính tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực khi lập BCTC do các nhà quản lý trong doanh nghiệp áp dụng. Nhƣ vậy, khi thị trƣờng chứng khoán tại Việt Nam càng phát triển thì kiểm toán sẽ ngày càng giữ vai trò quan trọng, lúc đó, những kỳ vọng của ngƣời sử dụng BCTC sẽ ngày càng cao. Họ kỳ vọng cao hơn rằng kiểm toán viên sẽ bảo vệ lợi ích cho họ và CTC đƣợc kiểm toán sẽ giúp họ đƣa ra các quyết định kinh tế đúng đắn.
Chính lúc này, sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng về khác biệt trong cách nhìn nhận và hiểu biết giữa những ngƣời sử dụng BCTC và kiểm toán viên sẽ nảy sinh rất nhiều rắc rối và sự hiểu lầm không đáng xảy ra. Với tầm quan trọng nhƣ trên, tác giả cho rằng kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ làm rõ thêm về sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng trong hoạt động kiểm toán tại Việt Nam cũng nhƣ các giải pháp nhằm giảm thiểu khoảng cách này. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng là một trong những đề tài nghiên cứu còn hết sức mới mẻ tại Việt Nam mặc dù theo Chandler & Edward( 1996) sự tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán đã đƣợc đề cập cách đây hàng trăm năm và trên thế giới đã bắt đầu nghiên cứu về hiện tƣợng này từ đầu thập niên 1970. Theo tổng hợp của Nguyễn Ngọc Khánh Dung (2015) , các nghiên cứu trên thế giới thƣờng đi theo hai hƣớng tiếp cận chính: Hướng tiếp cận thứ nhất: khảo sát thực nghiệm qua việc so sánh nhận thức hoặc kỳ vọng giữa KTV và ngƣời sử dụng BCTC liên quan đến : trách nhiệm KTV; hiểu biết về mục tiêu, chức năng kiểm toán; hiểu biết thông điệp truyền tải trong báo cáo kiểm toán trong từng hoàn cảnh cụ thể nhƣ: Lee (1970); Baron et al (1977), Lowe (1994); McEnroe & Martens (2001); Lin & Chen (2004); Fadzly & Ahmed (2004); Lee et al (2007); Haniffa & Hudaib (2007); Sidani et al (2007), …… Tổng hợp kết quả nghiên cứu trên cho thấy tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại các quốc gia khác nhau tập trung vào hai lĩnh vực là trách nhiệm của kiểm toán viên và thông tin trên báo cáo kiểm toán, ngoài trừ nghiên cứu của Lee (1970), cụ thể: - Đối với trách nhiệm của kiểm toán viên, có 4 trách nhiệm kiểm toán thƣờng tồn tại khác biệt trong kỳ vọng giữa các nhóm đối tƣợng khảo sát: Trách nhiệm phát hiện và báo cáo tất cả các sai sót và gian lận (trách nhiệm đối với gian lận và sai sót); Trách nhiệm đảm bảo về tính chính xác của BCTC và khả năng thanh toán của công ty (trách nhiệm đảm bảo khả năng hoạt động liên tục); Trách nhiệm đƣa ra cảnh báo sớm sự thất bại của công ty (trách nhiệm dự báo); Luan van 6 Trách nhiệm phát hiện và báo cáo hành vi bất hợp pháp (trách nhiệm đối với việc tuân thủ pháp luật).
- Đối với thông tin trình bày trên báo cáo kiểm toán, hai vấn đề chính thƣờng tồn tại khác biệt trong nhận thức gồm mục đích và hạn chế của kiểm toán và các khái niệm và thuật ngữ sử dụng. Công trình nghiên cứu nổi bật theo hƣớng tiếp cận này là của Lee (1970) “The nature of auditing and its objectives”. Đây là nghiên cứu đầu tiên về khoảng cách kỳ vọng đƣợc thực hiện tại Anh Quốc. Ông đã khảo sát các KTV , đối tƣợng bị kiểm toán (giám đốc, thƣ ký và kế toán) và các đối tƣợng thụ hƣởng (các nhà đầu tƣ, ngân hàng và môi giới chứng khoán) nhằm xác định ý kiến của họ về 13 mục tiêu.