Chương 1 trình bày tóm tắt các nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới và tại Việt Nam liên quan đến đề tài nghiên cứu. Qua đó, tác giả nhận thấy được khoảng trống của các nghiên cứu trước và dựa trên nền tảng này để thực hiện các bước nghiên cứu tiếp theo. Kết quả từ các công trình nghiên cứu trên đã tìm ra những nhân tố tài chính và phi tài chính thật sự có vai trò trong việc phân biệt loại ý kiến kiểm toán, từ đó xây dựng các mô hình dự đoán có ý nghĩa trong thực tiễn thực hiện công việc của kiểm toán viên. Tại Việt Nam, mặc dù cũng đã có một số nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế về giới hạn cỡ mẫu và phạm vi nghiên cứu.
Đây chính là khoảng trống để tác giả thực hiện đề tài tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTC. Từ đó, bổ sung thêm một bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của các nhân tố đến việc hình thành ý kiến kiểm toán về BCTC tại Việt Nam, cụ thể là đối với các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP. 123doc 15 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Báo cáo tài chính và mục đích của báo cáo tài chính 2.
Khái quát về báo cáo tài chính Theo khuôn mẫu về Báo cáo tài chính (IASB, 2010), BCTC là sự trình bày có hệ thống về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp. Các thông tin về tình hình tài chính được trình bày thông qua hệ thống các BCTC gồm: báo cáo về tính hình tài chính tại thời điểm cuối kỳ kế toán, báo cáo thu nhập toàn diện trong một thời kỳ, báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu trong một thời kỳ, báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong một thời kỳ và thuyết minh BCTC. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 21 về “Trình bày báo cáo tài chính”, BCTC phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. BCTC phải cung cấp thông tin của một doanh nghiệp về: Tài sản; Nợ phải trả; Vốn chủ sở hữu; Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ; và các luồng tiền thông qua hệ thống các BCTC.
Hệ thống BCTC của doanh nghiệp bao gồm 4 loại báo cáo như sau: + Báo cáo tình hình tài chính: báo cáo về tình hình tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn của doanh nghiệp hiện có tại một thời điểm cụ thể. + Báo cáo kết quả kinh doanh: cung cấp thông tin về tình hình doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán. + Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: nhằm cung cấp thông tin về tình hình thu, chi tiền từ các hoạt động kinh doanh. + Thuyết minh BCTC: trình bày chi tiết các nội dung cần phải làm rõ kèm theo những thông tin tài chính quan trọng có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp.
Ngoài bốn báo cáo chủ yếu như trên, khuôn mẫu về BCTC của Chuẩn mực kế toán quốc tế còn có báo cáo về sự thay đổi vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên ở Việt Nam thì báo cáo về sự thay đổi này được trình bày kết hợp trong bản thuyết minh BCTC. Mục đích của báo cáo tài chính Theo IASB (2010), BCTC là sản phẩm của công tác hạch toán kế toán của doanh nghiệp, nhằm cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, thành quả kinh doanh và các dòng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin trong việc ra quyết định kinh tế cho người sử dụng; đồng thời BCTC là công cụ báo cáo thành quả quản lý của nhà quản trị về những nguồn lực được ủy thác cho họ. Theo VAS 21-Trình bày BCTC, BCTC được lập nhằm mục đích cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tính hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu cho người sử dụng BCTC trong việc đưa ra các quyết định kinh tế.
Đối với doanh nghiệp: BCTC cung cấp các thông tin hữu ích cho việc đưa ra các quyết định quản lý đúng đắn, các cổ đông có thể sử dụng BCTC để theo dõi tình hình quản lý vốn đầu tư, các nhà quản lý có thể dựa vào thông tin tài chính cung cấp để phân bổ nguồn lực một cách hợp lý. Ngoài ra BCTC còn phản ánh được bộ mặt tài chính của doanh nghiệp, qua đó nếu bộ mặt tài chính tốt sẽ góp phần giúp doanh nghiệp huy động vốn đầu tư dễ dàng. Đối với các nhà đầu tư: BCTC giúp cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước tiếp cận thông tin về tình hình hoạt động và tình hình tài chính của doanh nghiệp một cách dễ dàng. BCTC cho phép các nhà đầu tư đánh giá về khả năng phát triển của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định đầu tư hiệu quả.
Đối với các cơ quan chức năng: BCTC giúp các cơ quan chức năng nắm bắt được tình hình biến động của nền kinh tế thông qua các bức tranh tài chính của các doanh nghiệp được cung cấp, qua đó có các biện pháp quản lý thị trường kịp thời cũng như có các chính sách thích hợp để hỗ trợ cũng như xử lý các doanh nghiệp trong từng tình huống cụ thể được phản ánh trên BCTC được cung cấp. Mặc dù mỗi nhóm đối tượng khác nhau sử dụng BCTC để phục vụ cho các mục đích khác nhau. Tuy nhiên tất cả các nhóm đối tượng này đều có một nhu cầu chung là muốn được cung cấp các BCTC phản ánh các thông tin một cách minh bạch, 123doc 17 trung thực và hợp lý. Để có được những BCTC có độ tin cậy cao, đặc biệt là BCTC được cung cấp bởi các doanh nghiệp niêm yết thì không thể thiếu sự tham gia của các công ty kiểm toán trong việc đưa ra ý kiến xác nhận về tính trung thực và hợp lý cũng như sự tuân thủ các quy định và chuẩn mực hiện hành của các BCTC được cung cấp.
Kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến của kiểm toán viên 2. Kiểm toán báo cáo tài chính Theo Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12, “Kiểm toán BCTC là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của BCTC của đơn vị được kiểm toán theo quy định của Chuẩn mực kiểm toán”. Theo ISA 200, mục đích của kiểm toán BCTC là làm tăng độ tin cậy của người sử dụng đối với BCTC, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu BCTC có được lập trên các khía cạnh trọng yếu phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không. Ý kiến của kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán Tất cả các cuộc kiểm toán đều phải kết thúc bằng một báo cáo để xác nhận những thông tin được kiểm toán có phù hợp với những chuẩn mực đã được thiết lập hay không.
Kiểm toán viên cần trình bày ý kiến của mình rõ ràng bằng văn bản, trong đó nêu rõ cơ sở của ý kiến kiểm toán, văn bản này chính là báo cáo kiểm toán. Theo VSA 700, báo cáo kiểm toán về BCTC là loại báo cáo bằng văn bản do kiểm toán viên và công ty kiểm toán lập và công bố để nêu rõ ý kiến chính thức của mình về BCTC của một đơn vị đã được kiểm toán. Như vậy, ý kiến kiểm toán thể hiện trên Báo cáo kiểm toán là mục đích sau cùng của một cuộc kiểm toán BCTC, phản ánh tổng hợp kết quả công việc kiểm toán và cung cấp cho người sử dụng BCTC một sự đảm bảo hợp lý về độ tin cậy của BCTC được lập bởi đơn vị được kiểm toán. Phân loại ý kiến kiểm toán 2.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế Theo ISA 700, ý kiến kiểm toán về BCTC bao gồm hai dạng chính, cụ thể là: - Ý kiến chấp nhận toàn phần (unqualified opinion) - Ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần (qualified opinion) Ý kiến chấp nhận toàn phần (unqualified opinion): được đưa ra trong trường hợp BCTC không chứa đựng các sai sót trọng yếu, việc trình bày BCTC là trung thực và hợp lý, tuân thủ các quy định liên quan. Ngoài ra ý kiến chấp nhận toàn phần còn có thể bao gồm đoạn nhấn mạnh để làm sáng tỏ một số vấn đề nhưng không ảnh hưởng đến ý kiến của kiểm toán viên. Ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần (qualified opinion): được trình bày trong trường hợp BCTC được kiểm toán có chứa đựng các sai sót trọng yếu, hoặc kiểm toán viên bị giới hạn về phạm vi kiểm toán và sự giới hạn này ảnh hưởng trọng yếu đến kết quả kiểm toán, hoặc có những bất đồng về những vấn đề quan trọng giữa kiểm toán viên và người quản lý đơn vị được kiểm toán làm ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán. Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành Nhằm mục tiêu hướng đến sự hài hòa và hội tụ với quốc tế trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính đã ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06/12, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014.
Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của tác giả là các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán từ 2013-2016 nên báo cáo kiểm toán được thu thập cho bài nghiên cứu chịu sự chi phối của chuẩn mực kiểm toán trước đây và chuẩn mực kiểm toán hiện hành. Phần này trình bày các loại ý kiến của báo cáo kiểm toán theo hai hệ thống chuẩn mực kiểm toán: Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam trước đây (Quyết định 120/1999/QĐ-BTC ngày 27/09/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014) 123doc 19 VSA 700, Đoạn 34 trước đây quy định, căn cứ kết quả kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra một trong các loại ý kiến về BCTC, như sau: - Ý kiến chấp nhận toàn phần; - Ý kiến chấp nhận từng phần; - Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến); - Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược). Đối với những BCTC đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần.