Chương 1 trình bày một số các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam liên quan đến đề tài nghiên cứu. Từ đó, người viết xác định khe hổng của các nghiên cứu trước làm cơ sở chứng minh tính cấp thiết của đề tài được lựa chọn. Đề tài với mục tiêu là nhằm nâng cao chất lượng hoạt độngkiểm toán kiểm toán độc lập tại Việt Nam nói chung và nâng cao chất lượng kiểm toán các ƯTKT nói riêng. Đây là nghiên cứu đầu tiên áp dụng phương pháp định tính kết hợp với định lượng nhằm xây dựng mô hình, xác định ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán các ƯTKT và đo lường mức độ ảnh hưởng của chúng đến CLKT ƯTKT.
12 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong kế toán hiện đại ngày nay, việc áp dụng giá trị hợp lý và các ƯTKT không còn mới lạ đối với người thực hiện và sử dụng BCTC. Bắt nguồn từ đòi hỏi BCTC phải phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính, kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng mục tiêu và yêu cầu sử dụng của nhiều đối tượng, ƯTKT ngày càng được sử dụng một cách rộng rãi trên cơ sở vận dụng các giả định hoạt động liên tục, dồn tích và các nguyên tắc kế toán nhằm chi phối tới việc ghi nhận các yếu tố của BCTC.1 Khái niệm và bản chất các ƣớc tính kế toán Khái niệm ƣớc tính kế toán Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và chuẩn mực kiểm toán quốc tế 540, ƯTKT là một giá trị gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đến BCTC được ước tính trong trường hợp thực tế đã phát sinh nhưng chưa có số liệu chính xác hoặc chưa có phương pháp tính toán chính xác hơn, hoặc một chỉ tiêu thực tế chưa phát sinh nhưng đã được ước tính để lập BCTC. Cụ thể hơn, các ƯTKT có thể biểu hiện dưới dạng các chỉ tiêu đã phát sinh như dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, chi phí trả trước, khấu hao tài sản cố định, giá trị sản phẩm dở dang, doanh thu ghi nhận trước, doanh thu hợp đồng xây dựng dở dang; và dưới dạng các chỉ tiêu chưa phát sinh như dự phòng chi phí bảo hành, chi phí trích trước… Hay theo Ủy ban Giám sát hoạt động kiểm toán cho các công ty đại chúng (PCAOB), ƯTKT là các khoản mục trong BCTC mà được đo lường và việc đánh giá các khoản mục này mang tính không chắc chắn. ƯTKT hay còn được gọi là các ước tính phức tạp (complex estimates) liên quan đến các giả định và các mô hình tính toán khác nhau được sử dụng ngày càng thường xuyên trong BCTC (Griffith, 2013).
13 Bản chất của các ƣớc tính kế toán Căn cứ vào các khái niệm và quan điểm trên, có thể rút ra bản chất của các ƯTKT như sau: Tính không chắc chắn trong ước tính: các chỉ tiêu ƯTKT không được xác định và đo lường một cách chính xác nên phải dựa vào các dữ liệu, mô hình và phương pháp ước tính khác nhau. Những yếu tố này thay đổi tùy theo tính chất từng khoản mục, đặc thù kinh doanh của khách hàng, tính sẵn có của thông tin tại thời điểm lập…nên ảnh hưởng đến độ tin cậy của các ƯTKT. ƯTKT có thể liên quan đến một khoản mục đã phát sinh và cả khoản mục chưa phát sinh. Đối với khoản mục chưa phát sinh, tính không chắc chắn càng lớn.
Tính chủ quan trong ước tính: các ƯTKT phụ thuộc vào kinh nghiệm, xét đoán chuyên môn và cả đạo đức nghề nghiệp của người thực hiện. Mức độ phức tạp của ước tính càng cao thì mức độ chủ quan càng lớn. Doanh nghiệp là bên biết rõ nhất về các thông tin nội bộ và đặc thù về sản xuất kinh doanh, đó là các dữ liệu quan trọng trong các ƯTKT. Doanh nghiệp có thể dựa vào sự tự do trong việc sử dụng và lựa chọn các dữ liệu và mô hình ước tính nhằm mục đích làm thiên lệch các thông tin trên BCTC, dẫn đến làm sai lệch đáng kể thông tin tài chính của doanh nghiệp đặc biệt là trong điều kiện kinh tế gặp khó khăn hiện nay.
Mặc dù ƯTKT là các khoản mục mang tính không chắc chắn và tính chủ quan cao, nhưng đây là khoản mục cần thiết, giúp nâng cao tính trung thực và hợp lý của các thông tin được trình bày trên BCTC, đảm bảo phản ánh đúng giá trị của doanh nghiệp và cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng BCTC.2 Các loại ƣớc tính kế toán và phƣơng pháp xác định giá trị 2.1 Ƣớc tính các chỉ tiêu đã phát sinh Dự phòng phải thu khó đòi 14 Khái niệm: Dự phòng phải thu khó đòi là dự phòng phần giá trị tổn thất của các khoản nợ phải thu, có thể không đòi được do đơn vị nợ không có khả năng thanh toán trong năm hiện hành và được xác định tại cuối mỗi kì kế toán. Điều kiện trích lập dự phòng: Các khoản dự phòng chỉ được trích lập khi có những bằng chứng đáng tin cậy về các khoản nợ phải thu khó đòi: khách hàng bị phá sản hoặc bị tổn thất, thiệt hại lớn về tài sản,…nên không hoặc khó có khả năng thanh toán hoặc khách hàng vẫn hoạt động nhưng đơn vị đã làm thủ tục nhiều lần vẫn không thu được nợ. Các khoản dự phòng chỉ được ghi nhận khi có thể ước tính một các hợp lý và tin cậy. Phƣơng pháp lập: dựa trên điều kiện thực tế của doanh nghiệp và chế độ tài chính hiện hành của doanh nghiệp trên cơ sở đánh giá tình hình thu nợ thực tế để ước tính dự phòng.
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho Khái niệm: Dự phòng giảm giá hàng tồn kho là khoản dự phòng ước tính đưa vào chi phí sản xuất kinh doanh phần giá trị bị giảm xuống thấp hơn giá trị ghi sổ kế toán của hàng tồn kho vào cuối kì kế toán. Điều kiện trích lập dự phòng: Hàng tồn kho được trích lập dự phòng khi giá trị thuần có thể thực hiện được nhỏ hơn giá gốc của hàng tồn kho. Phƣơng pháp lập: dự phòng hàng tồn kho được lập dựa trên số chênh lệch giữa giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho. Giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kì sản xuất kinh doanh bình thường trừ đi chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và tiêu thụ chúng.
Đối với hàng tồn kho chậm luân chuyển, doanh nghiệp ước tính tỉ lệ trích lập dự phòng thích hợp dựa trên điều kiện thực tế. Dự phòng giảm giá đầu tƣ tài chính Khái niệm: dự phòng giảm giá đầu tư tài chính là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do giảm giá các loại đầu tư tài chính của doanh nghiệp và được đánh giá và cuối kì kế toán. 15 Điều kiện trích lập dự phòng: Chứng khoán đầu tư được trích lập dự phòng khi đảm bảo các điều kiện sau: được doanh nghiệp đầu tư theo đúng quy định của pháp luật; được tự do mua bán trên thị trường mà tại thời điểm kiểm kê, lập BCTC có giá thị trường giảm xuống so với giá gốc trên sổ kế toán. Đối với các khoản đầu tư dài hạn như khoản vốn doanh nghiệp đang đầu tư vào tổ chức kinh tế khác, doanh nghiệp trích lập dự phòng khi tổ chức kinh tế đó đang bị lỗ.
Phƣơng pháp lập: phải thực hiện theo quy định của từng loại đầu tư, được tính bằng chênh lệch giữa giá trị thuần có thể thực hiện được hoặc khoản đầu tư có thể thu hồi được và giá gốc trên sổ sách. Khấu hao Khái niệm: khấu hao tài sản cố định là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của tài sản cố định vào chi phí sản xuất kinh doanh trong thời gian sử dụng tài sản. Nguyên tắc trích khấu hao: Giá trị phải khấu hao của tài sản cố định được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng. Phương pháp khấu hao được ước tính dựa trên cách thức tài sản đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp.
Doanh thu hợp đồng xây dựng dở dang Khái niệm: Hợp đồng xây dựng là hợp đồng bằng văn bản về việc xây dựng một tài sản hoặc tổ hợp các tài sản có liên quan chặt chẽ hay phụ thuộc lẫn nhau về mặt thiết kế, công nghệ, chức năng hoặc các mục đích sử dụng cơ bản của chúng. Nguyên tắc ghi nhận doanh thu hợp đồng xây dựng: được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được. Doanh thu và chi phí của hợp đồng xây dựng được ghi nhận theo 2 trường hợp: - Trường hợp hợp đồng xây dựng được quy định nhà thầu được thanh toán theo tiến độ kế hoạch, khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được ước tính một cách đáng tin cậy, thì doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành do nhà thầu tự xác định vào ngày lập 16 BCTC mà không phụ thuộc vào hóa đơn thanh toán theo tiến độ kế hoạch đã lập hay chưa và số tiền ghi trên hóa đơn là bao nhiêu. - Trường hợp hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo giá trị khối lượng thực hiện, khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được xác định một cách đáng tin cậy và được khách hàng xác nhận, thì doanh thu và chi chí liên quan đến hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần việc hoàn thành được khách hàng xác nhận trong khi được phản ảnh trên hóa đơn đã lập.2 Ƣớc tính các chỉ tiêu chƣa phát sinh Dự phòng chi phí bảo hành Khái niệm: dự phòng chi phí bảo hành là khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian, hình thành do cam kết bảo hành tại hợp đồng hoặc các văn bản quy định khác khi doanh nghiệp bán sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp.
Các nguyên tắc ghi nhận: Dự phòng chi phí bảo hành chỉ được ghi nhận khi thỏa mãn các điều kiện sau: Doanh nghiệp có nghĩa vụ nợ hiện tại do kết quả từ một sự kiện đã xảy ra; sự giảm sút về những lợi ích kinh tế có thể xảy ra dẫn đến việc yên cầu phải thanh toán nghĩa vụ nợ; các chi phí bảo hành phải trả có thể được ước tính một cách đáng tin cậy.