CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu đã công bố ngoài nước 1.1 Chất lượng thông tin BCTC Thông tin BCTC có chất lượng sẽ giúp cho các đối tượng sử dụng BCTC có được cơ sở đáng tin cậy để ra các quyết định đầu tư và tài chính. Khi nghiên cứu về mối quan hệ của chất lượng thông tin BCTC và hiệu quả đầu tư, Biddle và cộng sự (2009) đã kết luận rằng: BCTC có chất lượng càng cao sẽ làm giảm thông tin bất cân xứng, nguyên nhân tạo nên mâu thuẫn như suy giảm đạo đức kinh doanh hay lựa chọn chống đối. Nghiên cứu của Nanyondo (2014) cũng cho thấy có mối quan hệ đồng biến giữa chất lượng BCTC và khả năng người sử dụng có thể tiếp cận hoạt động tài chính của DNNVV. Chất lượng của BCTC còn ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế nếu DN cố ý thổi phòng kết quả kinh doanh bằng các chỉ số tài chính (Penman, 2003).
Trong nghiên cứu của Shroff (2015), tác giả đã kết luận rằng: việc cải thiện chất lượng BCTC có thể không ảnh hưởng đến tài chính công ty và hành vi đầu tư trong khi độ tin cậy của BCTC lại có ảnh hưởng đáng kể. Đồng thời, khi đề cập đến chất lượng BCTC các nhà nghiên cứu còn quan tâm đến cách để đo lường và đánh giá chất lượng BCTC. Trong bài viết của Jonas (2000) đăng trên tạp chí Accounting Horizons, ông đã tổng hợp những đặc tính chất lượng của BCTC dựa trên quan điểm bảo vệ cổ đông/ nhà đầu tư và nhu cầu của người sử dụng BCTC thể hiện qua hình 1.1 như sau: 6 SỰ HỮA ÍCH CỦA QUYẾT ĐỊNH ĐỘ RÕ RÀNG TÍNH THÍCH HỢP ĐỘ TIN CẬY GIÁ TRỊ GIÁ TRỊ CÓ THỂ BIỂU HIỆN TÍNH KỊP THỜI ƯỚC TÍNH PHẢN HỒI KIỂM CHỨNG TRUNG THỰC TÍNH CÓ THỂ SO SÁNH THU NHẬP THÔNG TIN BỊ (bao gồm cả TÍNH TÍNH BỀN VỮNG PHÂN TÁCH TÍNH NHẤT QUÁN) TRUNG LẬP ĐẦY ĐỦ (Nguồn: Gregory J. Jonas và Jeannot Blanchet, 2000) Hình 1.1 Mô hình các đặc tính chất lượng BCTC Bài viết của Jonas đã cung cấp những đặc tính chất lượng của BCTC dựa trên quan điểm bảo vệ cổ đông/ nhà đầu tư và nhu cầu của người sử dụng BCTC bao gồm: tính thích hợp, độ tin cậy.
Trong đó, tính thích hợp được thể hiện qua giá trị ước tính, giá trị phản hồi và sự kịp thời của thông tin trên BCTC. Đồng thời, độ tin cậy được thể hiện qua tính có thể kiểm chứng, tính trung lập, và biểu hiện tính trung thực trên BCTC. Nghiên cứu của Lehtinen (2013) về tính kịp thời và chất lượng BCTC đã đề xuất sử dụng mô hình các đặc tính của BCTC do FASB công bố để đánh giá chất lượng BCTC thông qua 2 đặc tính là tính thích hợp và độ tin cậy. Nghiên cứu của Nobes và Stadler (2014) về vai trò của các đặc tính chất lượng BCTC trong quyết định kế toán của các nhà quản lý.
Nhóm tác giả đã sử dụng mô hình đặc tính chất lượng BCTC của tổ chức nghề nghiệp IFRS. Theo đó, đặc tính chất lượng BCTC cũng được đánh giá thông qua tính thích hợp, tính đáng tin cậy đồng thời IFRS bổ sung thêm đặc tính có thể hiểu được và có thể so sánh. Các đặc tính chất lượng BCTC của tổ chức nghề nghiệp IFRS bao gồm: có thể hiểu được, quyết định tính hữu dụng, tính thích hợp và độ tin cậy. Tóm lại, chất lượng thông tin BCTC đóng vai trò quan trọng đối với các nhà đầu tư, cổ đông trong việc ra các quyết định tài chính.
Đồng thời cũng giúp DN tạo 7 lập cũng như giữ được uy tín của mình trên thị trường đầu tư đang ngày càng khó khăn và nhiều thách thức. Các nghiên cứu trên thế giới về tiêu thức đo lường chất lượng BCTC chủ yếu dựa trên mô hình các đặc tính chất lượng công bố bởi FASB và các đặc tính chất lượng BCTC theo IFRS nhưng có đều chỉnh để phù hợp với đặc điểm và yêu cầu riêng của từng nghiên cứu.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC Cùng với việc nghiên cứu các tiêu thức đo lường chất lượng BCTC, các nhà nghiên cứu trên thế giới còn quan tâm đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. Đơn cử là một nghiên cứu của Klai và các cộng sự (2011) về tác động của cơ chế quản lý đến chất lượng BCTC tại các công ty ở Tunisia. Thông qua tổng hợp từ các nghiên cứ trước đây, nghiên cứu của Klai và các cộng sự (2011) đã đề xuất mô hình hồi quy để kiểm định tác động của cơ chế quản lý đến chất lượng BCTC bao gồm các biến độc lập: Sự tham gia của người nước ngoài: tỷ lệ phần trăm của giám đốc và cổ đông nước ngoài, việc tách các vị trí giám đốc điều hành và chủ tịch HĐQT, và sự hiện diện của giám đốc bên ngoài.
Cổ đông lớn: mức độ sở hữu và mức độ kiểm soát trong công ty của các cổ đông lớn. Sức mạnh gia đình trong HĐQT: tỷ lệ phần trăm của các cổ đông và nhà quản lý là người đại diện cho gia đình và cổ phần của họ. Sức mạnh của các tổ chức đầu tư Nhà nước: tỷ lệ phần trăm của các cổ đông là người đại diện cho Nhà nước và các tổ chức tài chính và cổ phần của họ. + Và các biến kiểm soát bao gồm: Quy mô DN: là logarit tự nhiên của tổng tài sản.
Nợ của DN: được đo bằng tỷ lệ giữa tổng số nợ trên tổng tài sản. MTB (Cơ hội tăng trưởng): được xác định bằng tỷ lệ giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu chia cho giá trị sổ sách. 8 Chalaki và các cộng sự (2012) đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của các thuộc tính quản trị DN lên chất lượng BCTC tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran. Nhóm tác giả đã kiểm định các giả thuyết bằng cách sử dụng mô hình hồi quy bao gồm các biến độc lập: Kích thước HĐQT: số lượng thành viên hội đồng quản trị của công ty i trong năm t.
Mức độ độc lập của HĐQT: Số lượng thành viên bên ngoài hội đồng quản trị công ty i trong năm t chia cho tổng số thành viên hội đồng quản trị của công ty i trong năm t. Quyền sở hữu của các tổ chức: tổng số cổ phần của công ty i trong năm t thuộc về ngân hàng, bảo hiểm, tổ chức tài chính, các công ty tổ chức và tổ chức chính phủ. Sự tập trung quyền sở hữu: Tổng tỷ lệ phần trăm của các cổ đông có tối thiểu 5 % cổ phần của công ty i trong năm t. + Và các biến kiểm soát bao gồm: Kích thước DN: logarit tự nhiên của công ty i trong năm t.
Tuổi của DN: khoảng cách giữa thời điểm thành lập công ty để giai đoạn nghiên cứu. Quy mô kiểm toán: nếu một công ty được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán của Iran, nhận kết quả là 1, nếu không là 0. Đồng thời, biến phụ thuộc là chất lượng BCTC được đo bằng sự kết hợp hai mô hình của McNichols (2002) và Collins và Kothari (1989). Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy không có mối quan hệ giữa các thuộc tính quản trị DN bao gồm kích thước HĐQT, mức độ độc lập của HĐQT, tập trung quyền sở hữu, quyền sở hữu của các tổ chức với biến phụ thuộc là chất lượng BCTC.
Điều này có nghĩa là, chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran không chịu ảnh hưởng bởi các thuộc tính quản trị DN. Nguyên nhân của kết quả trên được nhóm tác giả giải thích là do khi xem xét trên nền kinh tế các nước kém phát triển, lợi ích ích mang lại khi cải thiện quản trị DN nhỏ hơn chi phí mà DN phải bỏ ra. 9 Đặc biệt, Albert và Serban (2012) đã thực hiện nghiên cứu tại các DNNVV ở Roma. Kết quả nghiên cứu cho thấy BCTC được lập bởi các DNNVV chủ yếu để phục vụ cho việc báo cáo với cơ quan thuế.
Các DNNVV chưa thực sự quan tâm đến chất lượng BCTC cung cấp cho các đối tượng sử dụng khác. Nghiên cứu cũng cho thấy tầm quan trọng của kiểm toán độc lập đối với độ tin cậy của thông tin BCTC. Đây cũng là khẳng định trong nghiên cứu của Maines and Wahlen (2006), nhóm tác giả cho rằng một báo cáo kiểm toán có ý kiến chấp nhận toàn phần là điều kiện cần thiết để nhận biết thông tin kế toán tài chính đáng tin cậy hoặc được trình bày trung thực. Nhìn chung, việc nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm thực hiện đặc biệt là các nhân tố bên trong công ty.
Tùy thuộc vào đặc thù của từng mục tiêu nghiên cứu mà các nhân tố được cân nhắc để đưa vào mô hình nghiên cứu.2 Các nghiên cứu đã công bố trong nước Tại Việt Nam những năm trước đây, các nghiên cứu về chất lượng BCTC chủ yếu tập trung vào hoàn thiện hệ thống BCTC, phân tích đánh giá tình hình tài chính thông qua BCTC của các DN. Tuy nhiên, khi giá trị của thông tin BCTC ngày càng gia tăng, gây ảnh hưởng không những đến nội bộ công ty mà còn là cơ sở quan trọng để các đối tượng sử dụng bên ngoài trong các quyết định tài chính và đầu tư. Nhận thấy được tầm quan trọng đó, những năm gần đây các nhà nghiên cứu đã chú trọng hơn trong nội dung nghiên cứu về chất lượng BCTC và đặt biệt là các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC.1 Các nhân tố bên trong DN ảnh hưởng đến chất lượng BCTC Khi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá các nhân tố bên trong doanh nghiệp tác động đến chất lượng TTKT trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết ở sở giao giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh”, Cao Nguyễn Lệ Thư (2014) đã kết luận rằng, có 3 nhân tố bên trong DN tác động đến chất lượng TTKT trên BCTC. Đó là, quy mô công ty, kết cấu vốn nhà nước, tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT.
10 Kết quả này còn là bằng chứng củng cố thêm cho các mô hình nghiên cứu trước đây trên thế giới về tác động của quản trị công ty đến chất lượng BCTC.