Lời mở đầu 1. Tính cấp thiết Trên hành trình 20 năm cải thiện và phát triển, thị trường chứng khoán giờ đây là một nền tảng đầu tư quen thuộc với các nhà đầu tư. Đây là một nơi được các nhà đầu tư quan tâm, tìm hiểu và lựa chọn sử dụng các nguồn tiền nhàn rỗi để sinh lợi nhuận, đồng thời cũng đem lại những hiệu quả trong việc huy động vốn và phân bổ nguồn vốn và từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. Bên cạnh những cơ hội sinh lời thì những rủi ro vẫn luôn tồn tại song song, những nhà đầu tư có thể rơi vào tình huống đưa ra các quyết định sai lầm khi đầu tư vào các công ty đang trong trạng thái bấp bênh hoặc đang làm ăn thua lỗ.
Trên TTCK Việt Nam, các cổ phiếu nhóm ngành vật liệu xây dựng được niêm yết trên thị trường được coi là nhóm ngành đem lại lợi nhuận khá tốt nhưng có mức rủi ro khá tương đối so với các nhóm ngành khác. Trong tình hình nền kinh tế đang phục hồi sau đại dịch Covid-19, thị trường chứng khoán đang mở ra nhiều triển vọng mới với ngành vật liệu xây dựng đang được kỳ vọng là nhóm ngành mang lại những tiềm năng hấp dẫn cho các tổ chức đầu tư tài chính và các nhà đầu tư cá nhân. Các dự án và công trình đầu tư đang có những dấu hiệu được triển khai trong năm tới cũng là một trong những yếu tố sẽ tạo ra sự hấp dẫn với nhóm ngành vật liệu xây dựng và thu hút thêm được nhiều những nhà đầu tư nước ngoài. Các yếu tố được nghiên cứu cho thấy có sự tác động tới giá cổ phiếu trên thị trường như sự phát triển của nền kinh tế trong nước và nước ngoài, bất cân xứng thông tin, tâm lý và hành vi NĐT, lãi suất, lạm phát,.
Mặc dù vậy, thông báo về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty đóng một vai trò quan trọng và có sự tác động tới giá cổ phiếu. Đối với ngành VLXD, báo cáo kết quả hoạt kinh doanh hoặc BCTC công bố thông tin lợi nhuận hàng tháng là một thông tin đặc biệt có sức ảnh hưởng tới thị trường mà các tổ chức tài chính và các nhà phân tích đang quan tâm. 1 Công bố thông tin lợi nhuận của các doanh nghiệp giúp nhà đầu tư có thể dự đoán được một phần ảnh hưởng của nó tới giá cổ phiếu, giúp họ tìm kiếm được cơ hội đầu tư đúng đắn. Trước đó đã có nhiều tác giả nghiên cứu về các đề tài liên quan công bố thông tin về trả cổ tức, lợi nhuận sẽ tạo ra những phản ánh lên giá cổ phiếu.
Nhưng chưa có nhiều đề tài nghiên cứu chi tiết về tác động của CBTT lên giá cổ phiếu của riêng từng ngành nghề. Do đó, em quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài “ Tác động của công bố thông tin lợi nhuận đến giá cổ phiếu ngành vật liệu xây dựng trên thị trường chứng khoán”. Mục tiêu nghiên cứu - Nhận biết được giá cổ phiếu nhóm ngành VLXD sẽ tạo ra xu hướng biến động khác biệt giữa những ngày xung quanh thời gian các doanh nghiệp công bố thông tin lợi nhuận ra thị trường. - Kiểm định được sự xuất hiện của lợi nhuận bất thường trong khoảng thời gian được lựa chọn để nghiên cứu chịu một phần ảnh hưởng tới từ tâm lý nhà đầu tư.
- Đáp ứng được đầy đủ những thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư để có thể lên kế hoạch xây dựng chiến lược đầu tư của riêng bản thân mình, quyết định danh mục đầu tư cổ phiếu cho ngành VLXD hợp lý nhất trong khoảng thời gian công bố những thông tin chính thức để đạt được mức lợi nhuận tốt nhất có thể. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận sẽ nghiên cứu việc công bố thông tin lợi nhuận của 10 công ty thuộc nhóm ngành VLXD được niêm yết TTCK Việt Nam, bao gồm 8 công ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE): CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HPG), CTCP Tập đoàn Hoa Sen (HSG), CTCP Thép Pomina (POM), CTCP Thép Nam Kim (NKG), CTCP Thép Việt Ý (VIS), CTCP Khoáng sản và Vật liệu Xây dựng Lâm Đồng (LBM), CTCP Đầu tư và Xây dựng Tiền Giang (THG), CTCP CMC 2 (CVT) và 2 công ty tại Sở giao dịch Hà Nội (HNX) là CTCP Gạch ngói Nhị Hiệp (NHC) và CTCP Vicostone (VCS). - Phạm vi nghiên cứu: Khi thông tin về lợi nhuận được đưa ra trong khoảng 1, 2, 5 và 10 ngày trước và sau khi công bố (các khoảng thời gian tương ứng là 3 ngày, 5 ngày, 11 ngày và 21 ngày tương ứng), kết quả nghiên cứu được đưa ra là khả năng sinh lời vượt trội của các cổ phiếu trong nhóm ngành này.
Dữ liệu được lấy từ tháng 4/2017 đến tháng 01/2021. - Để thu thập dữ liệu áp dụng vào nghiên cứu các công ty trên, lịch sử giá đóng cửa của những mã cổ phiếu được lựa chọn và chỉ số VN-Index được tra cứu từ trang finance. Phương pháp nghiên cứu Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu theo sự kiện. Phương thức này được sử dụng để thống kê sự tác động của một sự kiện tới một công ty, hơn nữa còn được áp dụng cho lĩnh vực khoa học chính trị, quản trị, ví dụ như kiểm định sự ảnh hưởng khi thay đổi nhân sự trong doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, trong quá trình thu thập và thống kê số liệu giá cổ phiếu nhóm ngành vật liệu xây dựng, em đã kết hợp giữa phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp kết quả. Chương II: Tổng quan nghiên cứu 2. Tổng quan về ngành cổ phiếu ngành vật liệu xây dựng trên thị trường chứng khoán Việt Nam Ngành vật liệu xây dựng là một trong những lĩnh vực quan trọng được Bộ Xây dựng đặc biệt quan tâm, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững. Vì vậy, nhóm cổ phiếu này vẫn luôn nhận được sự quan tâm từ các tổ chức tài chính cũng như các nhà đầu tư cá nhân.
Vật liệu xây dựng còn là một trong số các nhóm ngành có khối lượng cổ phiếu lưu hành lớn trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Số lượng cổ phiếu đang lưu hành của một số công ty ngành vật liệu xây dựng trên thị trường chứng khoán Việt Nam Mã chứng khoán Số lượng cổ phiếu lưu hành HPG 3.vn) Gần đây, trong bối cảnh COVID-19 tác động mạnh mẽ lên tất cả các ngành hàng, các dự án đầu tư công của Chính phủ được kì vọng trở thành niềm hy vọng cho các doanh nghiệp Việt Nam nhằm vượt qua giai đoạn khó khăn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp thuộc ngành vật liệu xây dựng. Các dự án đầu tư trong giai đoạn 2020 - 2026 4 Nhóm ngành thép, nhựa đường, xi măng và đá xây dựng được cho là hưởng lợi từ việc đẩy mạnh đầu tư công của Chính phủ. Đối với ngành đá, do đặc thù của ngành, chi phí vận chuyển thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành đá xây dựng.
Bên cạnh đó, nhu cầu đá cho các dự án này tương đương với khoảng 30 - 35% công suất khai thác được cấp phép của các doanh nghiệp khai thác trong khu vực. Ngành nhựa đường, kết quả kinh doanh có thể hưởng lợi lớn từ việc Chính phủ đẩy nhanh giải ngân tại các dự án cơ sở hạ tầng. Hơn nữa, giá dầu thấp trong năm 2020 sẽ đem lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn cho các doanh nghiệp trong ngành. Ngành thép hưởng lợi do nhu cầu tăng thêm từ 11 dự án thành phần cao tốc Bắc - Nam tương đương với khoảng 6,2% nhu cầu thép xây dựng hiện tại.
Qua đó sẽ giảm phần nào áp lực cạnh tranh trong ngành, đặc biệt trong bối cảnh công suất toàn ngành dự kiến sẽ tăng khoảng 15% trong năm nay. Giá cổ phiếu của các doanh nghiệp nhóm thép có dấu hiệu tăng trưởng tích cực Hòa Phát hoạt động trong ngành hưởng lợi từ việc Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công, do đó được nhận định sẽ thu được mức doanh thu đáng kể. Tình hình kinh doanh của CTCP Tập đoàn Hoa Sen cũng cho thấy các tín hiệu tích cực, khi dù 5 doanh thu giảm nhẹ, lợi nhuận vẫn tăng trưởng và vượt kế hoạch đề ra. Ngoài ra, thay vì chờ vào thị trường nội địa hay các dự án đầu tư công, Hoa Sen đang đẩy mạnh khai thác thị trường ngoại bằng việc tích cực xuất khẩu tôn mạ.
Với ngành xi măng sự hưởng lợi đến từ nhu cầu gia tăng của dự án cao tốc Bắc – Nam. Tuy vậy ngành này được đánh giá là vẫn trong tình trạng dư cung và áp lực cạnh tranh trong ngành gay gắt. Vấn đề công bố thông tin và sự ảnh hưởng đến giá cổ phiếu 2. Giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH) Giả thuyết thị trường hiệu quả được xây dựng dựa trên giả định, các nhà đầu tư ra quyết định mua bán chứng khoán dựa trên việc xác định giá trị được ước lượng bằng các dự tính được tính toán trên cơ sở sử dụng mọi thông tin sẵn có trên thị trường.
Theo cách đó, giá chứng khoán sẽ phản ánh tất cả và ngay lập tức đối với mọi thông tin liên quan Thị trường hiệu quả được phân ra 3 loại: thị trường hiệu quả dạng yếu, dạng trung bình và dạng mạnh - Giả thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu (weak - form efficiency): Giả định rằng giá chứng khoán đã phản ánh kịp thời toàn bộ thông tin có thể có được từ dữ liệu giao dịch trong quá khứ: giá, khối lượng giao dịch và tỷ suất thu nhập. Dữ liệu giá trong quá khứ được công khai và nhà đầu tư có thể dễ dàng tiếp cận. Thông tin trong quá khứ là nguồn lực rất yếu để sử dụng trong dự báo giá cổ phiếu trong tương lai. Giả sử nếu dữ liệu quá khứ thể hiện xu hướng trong tương lai, ngay lập tức các nhà đầu tư sẽ khai thác và sử dụng thông tin đó.
- Giả thuyết thị trường hiệu quả dạng trung bình (semi - strong form efficiency): Giả định rằng tất cả thông tin liên quan tới công ty đã được công bố rộng rãi và các thông tin quá khứ đều được phản ánh vào giá chứng khoán. Phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật đều không mang lại tỷ lệ lợi tức bất thường cho nhà đầu tư. 6 - Giả thuyết thị trường hiệu quả dạng mạnh (strong form efficiency) : Giả định rằng tất cả các thông tin liên quan đến chứng khoán, bao gồm cả thông tin nội gián cũng được phản ánh vào giá chứng khoán.