Chương 1: Tổng quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin kế toán tài chính trên thị trường chứng khoán 9 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cổ phiếu và các loại giá cổ phiếu: 2.1 Khái niệm về cổ phiếu: Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên. Theo Luật Chứng khoán Việt Nam năm 2006, cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Khi mua cổ phiếu, những người đầu tư (các cổ đông) sẽ trở thành những người chủ sở hữu đối với công ty.
Mức độ sở hữu đó tuỳ thuộc vào tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Là chủ sở hữu, các cổ đông cùng nhau chia sẻ mọi thành quả cũng như tổn thất trong quá trình hoạt động của công ty. Trong trường hợp xấu nhất là công ty phải thanh lý hay phá sản, cổ đông chỉ nhận dược những gì còn lại sau khi công ty đã trang trải xong các khoản nghĩa vụ khác (như thuế, nợ ngân hàng hay trái phiếu. Cổ phiếu là công cụ không có thời hạn.2 Đặc điểm của cổ phiếu: Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn do đó không có kỳ hạn và không hoàn vốn (tuy nhiên ta có thể bán để kiếm lời).
Cổ tức của cổ phiếu thường phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do đó không cố định. Như vậy khi doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt, cổ đông cũng được hưởng lợi nhuận cao (cao hơn các loại chướng khoán khác có lãi suất cố định), và ngược lại khi doanh nghiệp bị thua lỗ thì cổ tức rất thấp hoặc bằng 0. Khi công ty bị phá sản, cổ đông là người sau cùng được hưởng giá trị còn lại của tài sản thanh lý. Giá cổ phiếu biến động rất nhanh nhạy trên thị trường thứ cấp, do nhiều nhân tố.3 Các loại cổ phiếu: Khi xem xét cổ phiếu của Công ty cổ phần, thường có sự phân biệt cổ phiếu được phép phát hành, cổ phiếu đã phát hành, cổ phiếu quỹ, cổ phiếu đang lưu hành.
- Cổ phiếu được phép phát hành: Khi công ty cổ phần được thành lập, thì được phép phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Nhưng luật pháp các nước quy định công ty phải đăng ký tổng số cổ phiếu của công ty và phải ghi trong điều lệ công ty và được gọi là cổ phiếu được phép phát hành hay cổ phiếu đăng ký. Cổ phiếu được phép phát hành là số lượng cổ phiếu tối đa của một công ty có thể phát hành từ lúc bắt đầu thành lập cũng như trong suốt quá trình hoạt động. Khi cần có sự thay đổi số lượng cổ phiếu được phép phát hành thì phải được đa số cổ đông bỏ phiếu tán thành và phải sửa đổi điều lệ công ty.
- Cổ phiếu đã phát hành: là cổ phiếu mà công ty được bán ra cho các nhà đầu tư trên thị trường và công ty đã thu về được toàn bộ tiền bán số cổ phiếu đó, nó nhỏ hơn hoặc tối đa là bằng với số cổ phiếu được phép phát hành. - Cổ phiếu quỹ: là cổ phiếu đã được giao dịch trên thị trường và được chính tổ chức phát hành mua lại bằng nguồn vốn của mình. Số cổ phiếu này có thể được công ty lưu giữ một thời gian sau đó lại được bán ra; luật pháp một số nước quy định số cổ phiếu này không được bán mà phải hủy bỏ. Cổ phiếu quỹ không phải là cổ phiếu đang lưu hành, không có vốn đằng sau nó; do đó không được tham gia vào việc chia lợi tức cổ phần và không có quyền tham gia bỏ phiếu.
- Cổ phiếu đang lưu hành: là cổ phiếu đã phát hành, hiện đang lưu hành trên thị trường và do các cổ đông đang nắm giữ. Số cổ phiếu đang lưu hành được xác định như sau: Số cổ phiếu đang lưu hành = Số cổ phiếu đã phát hành – Số cổ phiếu quỹ Trong trường hợp công ty có cả hai loại cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi, người ta sẽ xác định cụ thể cho từng loại một. Số cổ phiếu thường đang lưu hành là căn cứ quan trọng để phân chia lợi tức cổ phần trong công ty. Dựa vào hình thức cổ phiếu, có thể phân biệt cổ phiếu ghi danh và cổ phiếu vô danh.
11 - Cổ phiếu ghi danh: là cổ phiếu có ghi tên người sở hữu trên tờ cổ phiếu. Cổ phiếu này có nhược điểm là việc chuyển nhượng phức tạp, phải đăng ký tại cơ quan phát hành và phải được Hội đồng Quản trị của công ty cho phép. - Cổ phiếu vô danh: là cổ phiếu không ghi tên người sở hữu. Cổ phiếu này được tự do chuyển nhượng mà không cần thủ tục pháp lý.
Dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu đưa lại cho người nắm giữ, có thể phân biệt cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường) và cổ phiếu ưu đãi. Đây là cách phân loại phổ biến nhất. Khi nói đến cổ phiếu của một công ty, người ta thường nói đến cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường) và cổ phiếu ưu đãi. Các loại cổ phiếu này tương ứng với các loại cổ phần.
- Cổ phiếu thường: Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu. Trên giấy này có ấn định mệnh giá của cổ phiếu.
Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường là những người chủ doanh nghiệp (hoặc là bất kì ai). - Cổ phiếu ưu đãi: Cổ phiếu ưu đãi là một loại chứng khoán có những đặc điểm vừa giống cổ phiếu thường, vừa giống trái phiếu. Đó cũng là một giấy chứng nhận cổ đông được ưu tiên so với cổ đông thường về mặt tài chính nhưng bị hạn chế về quyền hạn đối với công ty góp vốn như: người giữ cổ phiếu ưu đãi không được tham gia ứng cử và bầu cử vào Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát công ty, nhưng lại được ưu tiên chia cổ tức trước cổ đông thường, ưu tiên được trả nợ trước cổ đông thường khi thanh lý tài sản trong trường hợp công ty bị phá sản. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung vào cổ phiếu phổ thông.4 Các loại giá cổ phiếu thường: 2.1 Mệnh giá: Mệnh giá là giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu.
Mệnh giá của cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa. Vốn điều lệ của công ty cổ phần Mệnh giá cổ phiếu = Tổng số cổ phiếu đăng ký phát hành Tại Việt Nam, theo Luật Chứng khoán hiện hành, mệnh giá của cổ phiếu chào bán ra công chúng được ấn định là 10. Nhưng với thời gian, công ty càng ngày càng phát triển, giá trị thực của cổ phiếu cũng như giá bán của cổ phiếu trên thị trường thoát ly càng lúc càng xa mệnh giá giá cổ phiếu, và hơn thế nữa, cái mà nhà đầu tư quan tâm khi bỏ tiền ra mua cổ phiếu đó là cổ tức công ty, yếu tố cấu thành giá trị thực của cổ phiếu. Do đó, mệnh giá chỉ có giá trị danh nghĩa.2 Giá trị sổ sách: Giá trị sổ sách là giá cổ phiếu ghi trên sổ sách kế toán, phản ánh tình trạng vốn cổ phần của công ty tại một thời điểm nhất định.
Vốn cổ phần thường Giá trị sổ sách cổ phiếu = Tổng số cổ phiếu đang lưu hành Ngoài việc cho biết giá trị mà các cổ đông thường nhận được trong trường hợp công ty bị phá sản và các tài sản được thanh lý, giá trị sổ sách còn là yếu tố quan trọng cấu thành nên chỉ số P/B (Tỷ lệ giá cổ phiếu trên giá trị sổ sách), được dùng để so sánh giá trị cổ phiếu trên thị trường với giá trị sổ sách. Chỉ số P/B có ý nghĩa liên quan đến độ an toàn của khoản đầu tư dài hạn. Hệ số này càng cao thì rủi ro càng lớn. Một hệ số P/B thấp lại có ý nghĩa là cổ phiếu này được định giá thấp và thích hợp để mua và nắm giữ nó nếu doanh nghiệp có triển vọng tốt trong tương lai.
Tuy nhiên, hệ số thấp cũng có thể là do doanh nghiệp đang gặp nhiều vấn đề trong hoạt động sản xuất kinh doanh và có thể là không hợp lý nếu đầu tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp này.3 Giá trị nội tại: Giá trị nội tại là giá trị thực của cổ phiếu tại thời điểm hiện tại. Được tính toán căn cứ vào cổ tức công ty, triển vọng phát triển công ty và lãi suất thị trường. Đây là căn cứ quan trọng cho nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu, đánh giá được giá trị thực của cổ phiếu, so sánh với giá của thị trường và chọn lựa phương án đầu tư có hiệu quả nhất. Tại thời điểm cân đối giữa cung và cầu, hiện giá của cổ phiếu là giá cả hợp lý của cổ phiếu được nhà đầu tư chấp thuận phương án đầu tư hiệu quả.4 Thị giá: Thị giá là giá cổ phiếu trên thị trường tại một thời điểm nhất định.
Tùy theo quan hệ cung cầu mà thị giá có thể thấp hơn, cao hơn hoặc bằng với giá trị nội tại của nó tại thời điểm mua bán.2 Thông tin kế toán trên BCTC 2. Khái niệm Báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là những bảng tổng hợp được lập cho các đối tượng bên ngoài và các nhà quản lý ở đơn vị. Đó là các báo cáo kế toán phản ánh tổng quát về các đối tượng của kế toán, như: báo cáo cân đối giữa tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu (Bảng cân đối kế toán), báo cáo cân đối giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận (Bảng báo cáo kết quả kinh doanh), cân đối giữa các dòng tiền vào và dòng tiền ra (Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ). Do thông tin kế toán cung cấp từ những báo cáo này phản ánh các mặt thuộc hoạt động tài chính của đơn vị nên chúng thường được gọi là báo cáo tài chính.
Báo cáo tài chính được quy định thống nhất về biểu mẫu, nội dung các chỉ tiêu phản ánh trong bảng; thời gian lập và nộp.2 Hệ thống thông tin trên BCTC 2.