CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT 1. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI, YÊU CẦU CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Khái niệm về công bố thông tin Theo Sổ tay CBTT dành cho các công ty niêm yết thì “công bố thông tin được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng”. Theo “Public disclosure and transparency”, Yerevan May (2006) minh bạch thông tin “là sự công bố thông tin kịp thời và đáng tin cậy, nó cho phép những người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình hình và hiệu quả của một ngân hàng, hoạt động kinh doanh và rủi ro liên quan đến các hoạt động này”.
Công bố thông tin là quá trình cung cấp tài liệu và những bằng chứng liên quan rộng rãi cho quần chúng, không giấu giếm thông tin và phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền tin như website, báo chí, internet. Trong kế toán, công bố liên quan đến việc phổ biến thông tin của công ty liên quan đến hoạt động trong quá khứ, những dự báo cho tương lai, hoạt động hiện tại và nhiều thông tin khác. Trong giao dịch tài sản, công bố liên quan đến việc người bán, người môi giới cung cấp cho người mua những thông tin liên quan và có thể ảnh hưởng đến giá trị tài sản. Những quy định liên quan đến thông tin phải được công bố dù người mua có yêu cầu thông tin đó hay không.
Công bố thông tin có thể giúp cải thiện sự am hiểu của cộng đồng về cấu trúc và những hoạt động của công ty, chính sách, sự tuân thủ những tiêu 9 chuẩn về môi trường, đạo đức và những mối quan hệ của công ty đó với cộng đồng nơi mà họ hoạt động. Một hệ thống công bố thông tin hiệu quả có khả năng thúc đẩy tính minh bạch thông tin, là yếu tố then chốt của thị trường với vai trò làm nền tảng cho công tác điều hành ở các công ty và gia tăng năng lực của các cổ đông trong việc thực hiện quyền sở hữu dựa trên hiểu biết cơ bản về thông tin được công bố. Ngược lại, hoạt động công bố yếu kém và hành xử không minh bạch có thể gia tăng hành vi thiếu đạo đức và tăng chi phí cho thị trường, không chỉ riêng công ty và cổ đông mà cho cả nền kinh tế. Các cổ đông và nhà đầu tư tiềm năng yêu cầu tiếp cận với thông tin một cách thường xuyên, các thông tin đáng tin cậy và có khả năng so sánh thật chi tiết giúp họ tiếp cận với vấn đề quản lý cũng như thực hiện những quyết định rõ ràng về định giá, quyền sở hữu và quyền biểu quyết.
Thông tin không trung thực hoặc không rõ ràng sẽ có hại đến hoạt động của thị trường, tăng chi phí vốn và kết quả là phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Phân loại công bố thông tin a. Phân loại thông tin theo tính chất bắt buộc hoặc tự nguyện Thông tin bắt buộc: Là các thông tin mà công ty niêm yết bắt buộc phải công bố theo quy định của các văn bản pháp luật của một quốc gia. Những thông tin công bố này phải được trình bày theo những quy định của văn bản pháp luật có liên quan như Luật doanh nghiệp, chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán, quy định về CBTT của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước và Sở giao dịch.
Thông tin tự nguyện: Là thông tin không bắt buộc phải công bố theo quy định luật pháp mà do các thành phần tham gia trên thị trường chứng khoán chủ động và tự nguyện công bố. Việc công bố thông tin tự nguyện nhằm mục đích nâng cao uy tín công ty, củng cố và tăng cường quan hệ với các nhà đầu tư và tránh rủi ro phát sinh. Ngày 29/1/2001, Báo cáo nghiên cứu về tăng cường công bố thông tin tự nguyện của FASB (Uỷ ban chuẩn mực kế toán) đã đưa ra khái 10 niệm thông tin tự nguyện là những thông tin do công ty niêm yết tự nguyện công bố, nhưng không chỉ giới hạn ở thông tin tài chính mà còn bao gồm các thông tin phi tài chính. Công bố thông tin tự nguyện nhằm giới thiệu, giải thích về tiềm năng của công ty cho các nhà đầu tư, tăng cường tính thanh khoản của thị trường, đảm bảo việc phân bổ vốn hiệu quả hơn và giảm chi phí vốn, đồng thời hoàn thiện hơn cơ chế thông tin giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Phân loại thông tin theo thời điểm công bố Thông tin theo yêu cầu: Các tổ chức niêm yết phải thực hiện công bố thông tin theo yêu cầu của các cơ quan quản lý, điều hành trực tiếp và gián tiếp trên thị trường chứng khoán, nội dung thông tin công bố phải nêu ra sự kiện được các cơ quan quản lý yêu cầu, nguyên nhân, mức độ xác thực, các giải pháp xử lý (nếu có) Thông tin định kỳ: Các loại thông tin kế toán công bố định kỳ thường là: BCTC năm, BCTC bán niên (nếu có). Việc lập BCTC tuân thủ theo quy định tại Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính quy định về chế độ kế toán doanh nghiệp, Luật Kế toán, các chuẩn mực kế toán v.v… Thông tin bất thường: Bao gồm CBTT bất thường theo quy định như tài khoản của công ty tại ngân hàng bị phong toả hoặc được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong toả và CBTT bất thường theo yêu cầu gồm các thông tin mà công ty niêm yết phải công bố khi nhận được yêu cầu của UBCKNN, SGDCK trong các sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Phân loại theo phạm vi bao quát Thông tin đơn lẻ của từng nhóm chứng khoán Thông tin ngành, thông tin nhóm ngành Thông tin nhóm cổ phiếu đại diện và tổng thể thị trường Thông tin của SDGCK hay cả quốc gia, thông tin có tính quốc tế 11 d. Phân loại thông tin theo thời gian Thông tin quá khứ, thông tin hiện tại và thông tin dự báo cho tương lai Thông tin theo thời gian (phút, ngày.) Thông tin tổng hợp theo thời gian (tuần, tháng, quý, năm.
Phân loại thông tin theo thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Thông tin công bố trên thị trường sơ cấp: Thường là những thông tin của các tổ chức phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng. Cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành (Uỷ ban chứng khoán) là nơi nhận hồ sơ phát hành theo luật định, và chịu trách nhiệm về hoạt động phát hành của tổ chứ phát hành. Hồ sơ phát hành được quy định thường bao gồm một số tài liệu thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, nhân sự quản lý cấp cao của tổ chức, cơ cấu cổ đông, cổ đông nắm quyền kiểm soát, được trình bày tóm tắt trong Bản cáo bạch và các tài liệu khác có liên quan, trình Uỷ ban chứng khoán xem xét chuẩn y. Ở Việt Nam hiện nay, Uỷ Ban Chứng khoán Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính là cơ quan quản lý, chịu trách nhiệm theo dõi hoạt động công bố thông tin và chào bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp của tổ chức phát hành.
Nội dung chủ yếu là thông qua báo cáo tài chính, trong đó “Bản cáo bạch” và “Giấy đăng ký chào bán chứng khoán” là hai tài liệu quan trọng trong số các tài liệu phải trình Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Ngoài ra UBCKNN còn chịu trách nhiệm theo dõi việc công bố thông tin theo quy định của các tổ chức là công ty đại chúng. Thông tin công bố trên thị trường thứ cấp: Là thông tin được công bố của các tổ chức niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán. Công bố thông tin là nghĩa vụ quan trọng của các tổ chức niêm yết, những thông tin có thể ảnh hưởng đến giá cả và khối lượng giao dịch của cổ phiếu, trái phiếu của tổ chức niêm yết thì phải được công bố kịp thời, chính xác.
12 Thông tin được công bố trên thị trường được thực hiện theo quy định của các cơ quan quản lý thị trường trực tiếp và gián tiếp. Tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin là yêu cầu quan trọng và là điều kiện bắt buộc khi các tổ chức muốn được niêm yết trên Sở Giao dịch. Yêu cầu về công bố thông tin kế toán a. Yêu cầu về CBTT kế toán Chuẩn mực kế toán VAS 01 – Chuẩn mực chung, thông tin kế toán cần được trình bày trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và tính có thể so sánh được.
Trung thực Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Khách quan Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo. Đầy đủ Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót. Kịp thời Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ.
Dễ hiểu Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng. Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung 13 bình. Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết minh. Có thể so sánh Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán.
Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch. Yêu cầu về CBTT kế toán thuộc BCTC Báo cáo tài chính là công cụ hữu ích nhất của công ty trong việc truyền tải thông tin về hoạt động đến các đối tượng quan tâm trên thị trường (công ty, nhà đầu tư, cơ quan quản lý.