Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu nƣớc ngoài 1. Nghiên cứu về sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Khá nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng, dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu: (1) Nghiên cứu của Lee (1970) là nghiên cứu đầu tiên được thực hiện tại Anh. Ông đã khảo sát và gửi bảng câu hỏi đến các kiểm toán viên, đơn vị được kiểm toán và bên thứ ba.
Kết quả là hơn 80% số người được khảo sát cho rằng trách nhiệm của KTV là phát hiện các gian lận và sai sót, đảm bảo các công ty đã tuân thủ tất cả các yêu cầu của pháp luật quy định, xác minh tính chính xác của sổ sách, hồ sơ và chứng từ kế toán, đồng thời đưa ra ý kiến kiểm toán về sự trung thực, hợp lý của BCTC của đơn vị được kiểm toán. Trái với kỳ vọng của Lee, sự hiểu biết của KTV về mục tiêu kiểm toán có khác biệt so với đơn vị được kiểm toán và bên thứ ba. Ông thừa nhận rằng có sự tồn tại về khoảng cách kỳ vọng giữa các bên và nếu các bên không cùng chung nhận thức về mục tiêu kiểm toán thì các lợi ích từ cuộc kiểm toán sẽ không được đánh giá cao và đáng tin cậy. (2) Ở Mỹ, Baron và các cộng sự (1977) đã điều tra khác biệt về nhận thức giữa các nhóm người khác nhau liên quan đến trách nhiệm của KTV trong phát hiện các sai sót trọng yếu, gian lận và các hành vi bất hợp pháp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy kiểm toán viên và những người sử dụng BCTC có niềm tin khác nhau về việc phát hiện và trình bày các sai phạm và các hành vi bất hợp pháp. Đặc biệt, những người sử dụng BCTC yêu cầu kiểm toán viên có trách nhiệm nhiều hơn trong việc phát hiện và báo cáo gian lận và các hành vi không tuân thủ pháp luật hơn là những gì mà kiểm toán viên cho rằng mình phải làm. (3) Low (1980) đã điều tra khoảng cách kỳ vọng trên tại Úc về mức độ phát hiện và trách nhiệm công bố sai sót, gian lận và các hành vi không tuân thủ pháp luật giữa kiểm toán viên và những người sử dụng BCTC. Kết quả là cả hai nhóm có nhận thức hoàn toàn khác nhau.
Nghiên cứu này cũng nhất quán với nghiên cứu của 6 Lee (1970) và Lee cho rằng những bên liên quan có kỳ vọng cao hơn về hoạt động kiểm toán hơn là những gì mà kiểm toán viên đang thực hiện. (4) Low và các cộng sự (1988) đã điều tra khoảng cách kỳ vọng giữa kiểm toán viên và các nhà phân tích tài chính về mục tiêu kiểm toán tại Singapore. Những đối tượng khảo sát được cung cấp danh sách 13 mục tiêu của cuộc kiểm toán. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mục tiêu cơ bản của cuộc kiểm toán là đưa ra ý kiến của KTV về BCTC.
Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng cuộc kiểm toán cần được xem như là sự bảo đảm về tính chính xác về BCTC của một đơn vị. Nhìn chung mong đợi của các nhà phân tích tài chính về trách nhiệm KTV trong việc ngăn chặn và phát hiện sai phạm trọng yếu từ phía kiểm toán viên cao hơn là những gì mà kiểm toán viên có thể thực hiện. (5) Humphrey và các cộng sự (1993) thực hiện cuộc điều tra để thu thập bằng chứng về ý kiến và nhận thức về kiểm toán từ nhiều nhóm người khác nhau. Kết quả chỉ ra không có sự khác biệt đáng kể liên quan nhận thức về việc lập BCTC là phải tuân thủ theo luật định và chuẩn mực, nhưng có sự khác biệt đáng kể về vai trò của kiểm toán viên.
Nói chung, kiểm toán viên cho rằng họ có trách nhiệm và vai trò ít hơn so với những người sử dụng BCTC kỳ vọng về họ. Một điều thú vị là 71% kiểm toán viên không cho rằng Bảng cân đối kế toán trình bày trung thực về tình hình tài chính, trong khi đó 51% Giám đốc tài chính và 81% những người sử dụng kết quả kiểm toán lại có ý kiến ngược lại (6) Porter (2012) nghiên cứu được tiến hành tại New Zeland và Anh trong năm 2009 để điều tra khác biệt về quan điểm liên quan trách nhiệm KTV và thông điệp trên BCKiT. Nghiên cứu này được mở rộng từ nghiên cứu của tác giả Porter (1999), thực hiện tại New Zeland và Anh để nhằm kiểm tra sự thay đổi về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa năm 1999 và 2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy các đối tượng chưa nhận thức đúng về trách nhiệm KTV, không những vậy họ còn kỳ vọng nhiều hơn ở KTV về những trách nhiệm mà chuẩn mực kiểm toán chưa quy định.
Điều này cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở New Zeland và Anh; khoảng cách này ở New Zeland lớn hơn ở Anh. So với kết quả năm 1999 thì nghiên 7 cứu này đã cho thấy khoảng cách kỳ vọng này ở Anh đã thu hẹp hơn, trong khi đó ở New Zeland thì ngược lại. Sự thay đổi về khoảng cách này là do việc giám sát hoạt động kiểm toán và việc công khai minh bạch BCTC đã được kiểm toán ở Anh tốt hơn. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy người sử dụng BCTC chưa hiểu đúng và sử dụng hết các thông điệp trên báo cáo kiểm toán để đưa ra quyết định đầu tư của mình.
Nghiên cứu về các nhân tố cấu thành của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (1) Nghiên cứu của Hiệp hội kế toán (ICAI) Ireland vào 1990. Nghiên cứu này tiến hành khi xuất hiện những lời phê bình, chỉ trích đối với các báo cáo tài chính được kiểm toán, đặc biệt đối với báo cáo tài chính của những công ty lâm vào tình trạng phá sản. Hiệp hội này muốn điều tra xem liệu có hay không “khoảng cách kỳ vọng giữa người sử dụng báo cáo tài chính, đơn vị được kiểm toán và kiểm toán viên _ ICAI, 1992”. Để xác đinh các nhân tố cấu thành khoảng cách kỳ vọng, Ủy ban điều tra về kỳ vọng của người sử dụng BCTC (CIEUFS) ra đời dưới sự chỉ đạo của tiến sĩ Louden Ryan.
Nghiên cứu của CIEUFS (1992) đã kiểm tra khoảng cách kiểm toán kỳ vọng ở Ireland. CIEUFS kết luận rằng khoảng cách mong đợi kiểm toán cấu thành từ những yếu tố: Tính chính xác của BCTC , nguyên tắc hoạt động liên tục/ khả năng thanh toán, cảnh báo về sự phá sản sắp xảy ra, gian lận, mức độ tuân thủ chuẩn mực kiểm toán và tính độc lập của kiểm toán viên. Tính chính xác Nghiên cứu cho thấy rằng, đa số người sử dụng luôn có niềm tin đối với báo cáo kiểm toán, họ cho rằng ý kiến trên báo cáo kiểm toán là chấp nhận toàn phần thì BCTC là chính xác tuyệt đối. Ủy ban này cho rằng “khoảng cách tồn tại giữa kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo tài chính về mức độ chính xác trên báo cáo tài chính chỉ có thể thu hẹp được bằng cách làm cho những người sử dụng báo cáo tài chính hiểu rằng trên báo cáo tài chính thì còn khá nhiều khoản ước tính, do vậy việc xét đoán là không thể tránh khỏi” Nguyên tắc hoạt động liên tục/ khả năng thanh toán 8 Báo cáo tài chính thường được lập dựa trên giả định hoạt động liên tục nếu ngược lại, báo cáo tài chính phải được lập dựa trên giả định khác và cần phải thuyết minh rõ trên báo cáo tài chính.
Trách nhiệm của BGĐ xét đoán xem liệu giả định này có được tôn trọng hay không khi lập BCTC. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho thấy, BGĐ không cho rằng đó là trách nhiệm của mình phải công bố trên báo cáo tài chính hay báo cáo thường niên của Công ty về giả định này. Chính vì vậy, khi công ty bị phá sản thì khoảng cách giữa người sử dụng báo cáo tài chính đối với đơn vị được kiểm toán hay với kiểm toán viên lại càng có sự chênh lệch lớn khi lợi ích của người sử dụng BCTC bị ảnh hưởng. Cảnh báo về sự phá sản sắp xảy ra Nghiên cứu cho thấy rằng cả kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo tài chính đều cho rằng kiểm toán viên có trách nhiệm phát hiện và cảnh báo về sự phá sản sắp xảy ra đối với đơn vị được kiểm toán, cung cấp cho người sử dụng thông tin và lý do đối với trường hợp sắp phá sản của đơn vị được kiểm toán.
Nghiên cứu cũng cho thấy rằng nếu kiểm toán viên xác định những rủi ro đó là đáng kể và trọng yếu thì nên báo cáo cho Ủy ban Chứng khoán hoặc trao đổi với ban Giám đốc. Gian lận Nghiên cứu đã khảo sát và đưa ra kết luận là phần lớn người sử dụng BCTC không chấp nhận rằng mặc dù kế hoạch kiểm toán và thực hiện kiểm toán được thiết lập một cách chuyên nghiệp nhưng kiểm toán viên không thể phát hiện ra gian lận, đặc biệt là những đơn vị có sự thông đồng giữa các thành viên trong công ty. Vì vậy đối với hành vi trái pháp luật đã có một sự đồng thuận rằng nếu hành vi đó có ảnh hưởng đến lợi ích người sử dụng thì KTV nên báo cáo cho các cơ quan quản lý có liên quan. Mức độ tuân thủ chuẩn mực kiểm toán và tính độc lập của kiểm toán viên ICAI, 1992 sau khi khảo sát đã đưa ra kết luận: “đánh giá của những người sử dụng BCTC về tính độc lập và tuân thủ chuẩn mực chuyên môn còn thiếu hiệu quả và minh bạch”.
Vì vậy một số quan điểm cho rằng cần có các biện pháp cần thiết 9 được thực hiện để tăng cường tính độc lập của kiểm toán viên. Cần có sự quan tâm đặc biệt đối với các dịch vụ phi kiểm toán và sự phụ thuộc quá mức của kiểm toán đối với khách hàng. (2) Nghiên cứu của Ủy ban Macdonal (1988), Ủy ban này do Viện Kế toán Công chứng Canada (CICA) thành lập để nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng của người sử dụng báo cáo tài chính. Ủy ban này đã tiến hành thu thập thông tin từ nhiều nguồn như khảo sát qua điện thoại một cách ngẫu nhiên, phỏng vấn và gửi bảng câu hỏi cho nhóm người có am hiểu về BCTC, những người có đầy đủ thông tin và BCTC được kiểm toán.