Chương 1: Những vấn đề lý luận về đánh giá và vận dụng mức trọng yếu phục vụ kiểm toán báo cáo tài chính. Chương 2: Thực trạng đánh giá và vận dụng mức trọng yếu phục vụ kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện đánh giá và vận dụng mức trọng yếu phục vụ kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và kế toán AAC. Tống quan tài liệu nghiên cứu 'VỀ đánh giá và vận dụng mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính đến nay tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu Luận văn thạc sĩ "Nâng cao khả năng vận dụng tính trọng yếu trong kiến toán báo cáo tài chính của hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam" của tác giả Từ Thái Sơn năm 2007.
Tác giả đã hệ thông hóa lý luận cơ bản vé trong yếu và vận dụng trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính. Tác giả đã tiến hành khảo sát tại 15 công ty kiểm toán về việc vận dụng tính trọng yếu, chính sách, phương pháp xác lập và vận dụng mức trọng yếu trong quy trình kiểm toán. Đối tượng khảo sát được tập trung vào 3 nhóm chính như sau: nhóm l là các công ty kiểm toán quốc tế có vốn đầu tư nước ngoài gồm các công ty Pwc, E&Y, KPMG, Deloitte Touche Tohmatsu (Vaco Deloitte); nhóm 2 là các công ty kiểm toán tiền thân là các doanh nghiệp nhà nước có quy mô trên trung bình gồm các công ty AASC, A&C, AFC, AISC; nhóm 3 là các công ty kiểm toán có quy mô nhỏ bao gồm các công ty DTL, American Auditing, DNP, Thuy Chung, Viet Value, BHP, AFCC. Qua khảo sát, việc vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán chưa đồng đều tại 3 nhóm các công ty kiểm toán: Đối với nhóm 1 là các công ty kiểm toán quốc tế có chính sách và thủ tục vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán rất nghiêm ngặt và rất chuyên nghiệp, st cdc công ty này đều vận dụng phương pháp tiếp cận trong từng khách hàng cụ thê và có chính sách đảo tạo một cách chuyên nghiệp, tại các công ty này có sự kiểm tra trong hệ thống toàn cầu và thường xuyên cập nhật công nghệ kiểm toán, quản lý quốc tế nên chất lượng dịch vụ kiểm toán và quy trình về vận dụng tính trọng yếu là rất tốt, Đối với nhóm 2 là các công ty kiểm toán Việt Nam tiền thân là doanh nghiệp nhà nước, có quy mô trung bình, là thành viên của các hãng quốc tế, nhận được sự trợ giúp của các tập đoàn hàng đầu thế giới nên về quy trình vận dụng tính trọng yếu đã được đề cập đến trong quá trình thực hiện kiểm toán, song các công ty kiểm toán này chưa nhận thức được sâu sắc vai trò vận dụng trong quá trình thực hiện kiểm toán nên nhìn chung chưa theo kịp quy trình nghiệp vụ tại các công ty kiểm toán quốc tế; Đối với các công ty có quy mô nhỏ, việc vận dụng tính trọng yếu còn ít được quan tâm thậm chí nhiều công ty chưa có chính sách và quy trình vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán.
Các công ty kiểm toán Việt Nam chưa nhận thức đầy đủ vai trò vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán và việc vận dụng tính trọng yếu còn mang nặng tính hình thức. Sau khi đánh giá thực trang vận dụng tính trong yếu trong kiểm toán tại các công ty kiểm toán Việt Nam, tác giả đề ra các giải pháp bao gồm các giải pháp mang tính nguyên tắc như: hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập, luôn cập nhận chuẩn mực kiểm toán cho phù hợp thay đổi của nền kinh tế, chuyển giao một số hoạt động cho hội nghề nghiệp.; giải pháp về phía công ty như: cập nhật chương trình đào tạo huấn luyện cho nhân viên, nâng cao năng lực chuyên môn cho kiểm toán viên. [6] Luận văn thạc sĩ "Giải pháp nâng cao khả năng vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ tại khu vực phía nam Việt Nam" của tác giả Võ Thị Hiền Nhi năm 2012. Tác giả đã nêu khái quát những vấn đề cơ bản về tính trọng yếu trong kiểm toán, hệ thống hóa các nghiên cứu trước đây về tính trọng yếu, giới thiệu kinh nghiệm vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán tại Hoa Kỳ.
Đồng thời tác giả thực hiện khảo sát nghiên cứu các thông tin đánh giá về việc vận dụng tính trọng yếu ra tại các công ty kiểm toán vừa và nhỏ tại khu vực phía nam Việt Nam. Tác giả thực hiện khảo sát tại 17 công ty kiểm toán. Các công ty kiểm toán được phân chia thành 2 nhóm: Nhóm 1 là nhóm công ty kiểm toán có số lượng nhân viên từ 50 đến 100 người gồm 5 công ty kiểm toán có quy mô vừa, Nhóm 2 là nhóm công ty kiểm toán có số lượng nhân viên dưới 50 người gồm 12 công kiểm toán có quy mô nhỏ. Thông qua kết quả khảo sát, tác giả đánh giá rằng việc vận dụng tính trọng yếu tại các công ty kiểm toán có quy mô vừa, tốt hơn so với các công ty nhỏ.
Các công ty có sử dụng chương trình kiểm toán mẫu tốt hơn so với các công ty không sử dụng. Các công ty có số lượng kiểm toán viên lớn hơn trung bình mẫu tốt hơn các công ty có số lượng kiểm toán viên nhỏ hơn trung bình mẫu. Theo tác giả, nguyên nhân của van dé này là do: chuẩn mực chỉ dừng ở mức chung chung, chưa đưa ra hướng dẫn cụ thể; nguồn nhân lực hạn chế, quy trình kiểm toán tại các công ty kiểm toán nhỏ đa phần chưa hoàn thiện. Từ phân tích thực trạng, nguyên nhân của những tồn tại, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao việc vận dụng tỉnh trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán vừa và nhỏ như: các công ty kiểm toán cần có quy định bằng văn bản hướng dẫn vẻ việc áp dụng tính trọng yếu trong kiểm toán và tăng cường kiểm soát chất lượng hoạt đông kiểm toán; cập nhật chương trình đào tạo, huấn luyện nội bộ nhằm hướng dẫn cho kiểm toán viên thực hiện vận dụng tính trọng yếu trong kiềm toán, tăng cường công tác kiểm soát chat lượng.
Luận án tiến sĩ kinh tế "Nghiên cứu đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng hoạt động trong các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ tại khu vực phía nam Việt Nam" của tác giả Đoàn Thanh Nga năm 2011. Trong phần lý luận cơ bản tác giả đã trình bày khá chỉ tiết cơ sở lý luận về đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán. Tác giả đã tiến hành khảo sát 36 công ty kiểm toán va 30 khách hàng của 15 công ty kiểm toán dé tìm hiểu thực trạng đánh giá trọng yếu bao gồm việc xây dựng và áp dụng các tiêu chí ước lượng ban đầu về mức trọng yếu, việc quy định và thực tế thực hiện phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục trên báo cáo tài chính, hướng dẫn về các sai phạm có thể bỏ qua; rủi ro kiểm toán bao gồm thiết lập mức rủi ro kiểm toán mong muốn, quy định và thực tế áp dụng các phương pháp đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm toán trên toàn bộ báo cáo tài chính cũng như trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ, qui trình và thực tế thực hiện xác định mức rủi ro phát hiện; và thực trạng chất lượng kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam trong mối liên hệ với đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán. Qua khảo sát, bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán còn tồn tại một số vấn đề sau: 7u nhát, việc phân bổ ước lượng ban đầu về mức trọng yếu cho các khoản mục trên báo cáo tai chính à một vấn đề phức tạp, mang tính chủ quan của kiểm toán viên.
Giữa các công ty kiểm toán áp dụng không thống nhất cả trong hướng dẫn và trong thực hiện. Cu thé, có công ty không thực hiện phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục. trên báo cáo tài chính, điều này dẫn đến khi tổng hợp các sai phạm không được điều chỉnh trong từng khoản mục sẽ gây khó khăn cho kiểm toán viên trong việc quyết định tổng hợp mức sai phạm đó có được xem là trọng yếu hay không, trong khi đó có công ty thực hiện phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục dựa trên những tỷ lệ cố định mà chưa dựa vào bản chất của khoản mục, rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát được đánh giá cho từng khoản mục đó; Thứ hai, hầu hết các công ty kiểm toán Việt Nam vẫn sử dụng cách truyền thống để đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán theo cách tiếp cận truyền thống dựa trên các đánh giá và kết luận về các khoản mục cụ thể trên báo cáo tài chinh; Thi ba, khi đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát trên số dư tài khoản và loại hình nghiệp vụ, ngoài việc đưa ra kết luận chung về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát cho mỗi khoản mục thì kiểm toán viên cần đánh giá chỉ tiết cho từng. cơ sở dẫn liệu của các khoản mục đó nhằm thiết kế các thử nghiệm kiểm toán phù hợp hướng tới tập trung vào các cơ sở dẫn liệu có khả năng bị sai phạm nhiều hơn.
Tuy nhiên, trên thực tế khi đánh giá về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát trên số tài khoản và loại nghiệp vụ, các công ty kiểm toán Việt Nam chưa quan tâm đến việc đánh giá chỉ tiết tới từng cơ sở dẫn liệu.Từ phân tích những vấn đề tồn tại, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam như: hoàn thiện phân bổ ước lượng ban đầu về mức trọng yếu cho các khoản mục trên báo cáo tài chính, tăng cường sử dụng phương pháp tiếp cân mô hình đánh giá rủi ro kiểm toán theo rủi ro kinh doanh của khách hàng, hoàn thiện đánh giá rủi ro kiểm toán trên số dư tài khoản và loại nghiệp vụ chỉ tiết cho từng cơ sở dẫn liệu.