CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP THỰC HIỆN 1. Tổng quan về Kiểm toán độc lập và Kiểm toán BCTC 1. Tổng quan về Kiểm toán độc lập 1. Khái niệm về kiểm toán độc lập Khái niệm Kiểm toán: Kiểm toán là một quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập.
Quá trình kiểm toán phải thực hiện bởi những kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập. Khoản 1 Điều 5 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 được quốc hội thông qua ngày 29/3/2011 (Sau đây gọi tắt là Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12) (có hiệu lực từ ngày 01/01/2014) quy định “Kiểm toán độc lập là việc KTV hành nghề, DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”. Vai trò của kiểm toán độc lập Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, các chủ doang nghiệp - người có trách nhiệm lập và trình bày báo cáo tài chính có thể không cung cấp cho các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của công ty một cách trung thực, minh bạch và chính xác nhất. Vì thế cần nhờ tới sự kiểm tra xác nhận độc lập của người thứ ba.
Kiểm toán viên độc lập - những người hoạt động theo nguyên tắc bắt buộc và có đủ năng lực uy tín với cả chủ doanh ngiệp và người quan tâm đến bản báo cáo tài chính. Những người quan tâm có thể kể đến là: - Các cơ quan Nhà nước cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. 5 - Các cổ đông góp vốn kinh doanh hoặc mua cổ phiếu của doanh nghiệp tuy không có trình độ để kiểm tra kỹ lưỡng bản báo cáo tài chính, do đó khi có trên tay bản báo cáo tài chính đã được kiểm toán viên độc lập xác nhận là trung thực hợp lý thì họ có thể yên tâm ăn chia lợi tức và quyết định tiếp tục đầu tư hoặc không đầu tư vào doanh nghiệp đó. - Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng cho doanh nghiệp vay vốn cũng phải nắm chắc tình hình kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng để quyết định cho vay, thu hồi vốn hoặc không cho vay.
Kiểm toán viên sẽ giúp ngân hàng hoặc những người cho vay làm việc đó. - Trong quan hệ kinh doanh các khách hàng có thể mua chịu.Tuy nhiên nếu có báo cáo tài chính của người mua hàng được kiểm toán viên có danh tiếng kiểm tra xác nhận là tốt thì người bán sãn sàng bán chịu. - Trong nền kinh tế thị trường người lao động có quyền lựa chọn nơi làm việc theo mong muốn của bản thân. Chính vì thế việc nghiên cứu các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp giúp cho người lao động yên tâm về một môi trường tốt, công ty có nhiều cơ hội tăng trưởng, chế độ đãi ngộ nhân viên tốt.
Nước ta đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế trong đó các quan hệ tài chính chế độ kế toán thay đổi nhiều lần. Trong khi đó công tác kiểm tra kiểm soát chưa chuyển hướng kịp thời, dẫn tới tình trạng vi phạm các nguyên tắc chế độ tài chính kế toán. Đã có ý kiến cho rằng chưa thể cải cách công tác kiểm tra trong khi chưa triển khai toàn diện và rộng khắp công tác kế toán. Tuy nhiên kinh nghiệm thực tế đã chỉ rõ chỉ có triển khai tốt hơn công tác kiểm toán mới có thể nhanh chóng tài chính kế toán đi vào nề nếp.
Mục tiêu của Kiểm toán độc lập Tùy vào từng loại hình kiểm toán mà mục tiêu kiểm toán có thể thay đổi, tuy nhiên có thể tóm lại mục tiêu kiểm toán như sau: Mục tiêu kiểm toán là việc thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán nhằm đưa ra ý kiến một cách độc lập về mức độ trung thực, hợp lý hay tính hiệu lực, hiệu quả của đối tượng được kiểm toán so với các chuẩn mực đã được thiết lập. Phân loại Kiểm toán Căn cứ vào hình thức tổ chức, kiểm toán có 3 loại: - Kiểm toán độc lập: là việc kiểm toán được thực hiện bởi các KTV chuyên nghiệp, độc lập làm việc trong các DNKT. Kiểm toán độc lập là loại hình dịch vụ nên chỉ được thực hiện khi khách hàng có yêu cầu và đồng ý trả phí thông qua việc ký kết hợp đồng kinh tế. - Kiểm toán nhà nước: là việc kiểm toán được thực hiện bởi các KTV làm việc trong cơ quan Kiểm toán Nhà nước, là tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp thuộc bộ máy hành chính nhà nước; là kiểm toán theo luật định và kiểm toán tính tuân thủ, chủ yếu phục vụ việc kiểm tra và giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng Ngân sách, tiền và tài sản của Nhà nước.
- Kiểm toán nội bộ: là việc kiểm toán do các KTV của đơn vị tiến hành. Kiểm toán nội bộ chủ yếu để đánh giá về việc thực hiện pháp luật và quy chế nội bộ; kiểm tra tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ và việc thực thi công tác kế toán, tài chính… của đơn vị. Căn cứ vào mục đích, kiểm toán có 3 loại: - Kiểm toán hoạt động: là việc KTV hành nghề, Doanh nghiệp kiểm toán (DNKT), chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của một bộ phận hoặc toàn bộ đơn vị được kiểm toán. - Kiểm toán tuân thủ: là việc KTV hành nghề, DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về việc tuân thủ pháp luật, quy chế, quy định mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện.
- Kiểm toán Báo cáo tài chính: là việc KTV hành nghề, DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán. Tổng quan về kiểm toán Báo cáo tài chính 1. Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính Hiện nay, khái niệm “Kiểm toán báo cáo tài chính” vẫn có nhiều cách dùng và cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì kiểm toán báo cáo tài chính được hiểu như sau: Kiểm toán BCTC là hoạt động đặc trưng và nằm trong hệ thống kiểm toán nói chung.
Cũng như mọi loại hình kiểm toán khác, để thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm toán BCTC cũng sử dụng các phương pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ. Tuy nhiên, Kiểm toán BCTC có đặc điểm riêng về đối tượng, quan hệ chủ thể - khách thể kiểm toán nên cách thức kết hợp các phương pháp cơ bản có những điểm đặc thù. Kiểm toán BCTC là quá trình các kiểm toán viên độc lập và có năng lực thực hiện thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán để xác minh và bày tỏ ý kiến về mức độ trung thực và hợp lý của các Báo cáo tài chính được kiểm toán xét trên khía cạnh trọng yếu. Đối tượng cụ thể của kiểm toán tài chính là các bảng khai tài chính được lập tại một thời điểm cụ thể.
Quan hệ giữa chủ thể và khách thể của kiểm toán tài chính là quan hệ ngoại kiểm nên vấn đề hiểu biết của chủ thể về khách thể kiểm toán luôn luôn là trọng tâm của công việc kiểm toán. Vai trò của kiểm toán BCTC Kiểm toán báo cáo tài chính giúp cho người sử dụng đánh giá được độ tin cậy của các thông tin định lượng trên báo cáo tài chính trên cơ sở đó mà đưa ra quyết định kinh tế đúng đắn, hiệu quả trong mối quan hệ kinh tế với tổ chức hoặc doanh nghiệp có báo cáo tài chính. Giúp doanh nghiệp kiểm tra, đánh giá về chất lượng và độ tin cậy đối với thông tin kinh tế, tài chính của BCTC, báo cáo kế toán quản trị và hoạt động của doanh nghiệp nhằm gia tăng niềm tin của các cổ đông, các nhà đầu tư. Tài sản cố định là một trong những bộ phận tài sản quan trọng trong doanh nghiệp, là một trong các bộ phận tư liệu sản xuất của doanh nghiệp.
Tài sản cố định là một khoản mục có giá trị lớn, thường chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng tài sản 8 trên bảng cân đối kế toán. Vì vậy, kiểm toán chu trình TSCĐ thường chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình kiểm toán BCTC. Bên cạnh đó, những khoản đầu tư cho TSCĐ vô hình như chi phí thành lập doanh nghiệp, quyền sử dụng đất, giá trị phát minh, sáng chế, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí về lợi thế thương mại thường có nhiều khó khăn trong quá trình tập hợp và sai sót trong việc đánh giá giá trị. Chính vì vậy, TSCĐ vô hình cũng là một đối tượng được quan tâm trong quá trình kiểm toán.
Kiểm toán TSCĐ là một bộ phận cấu thành nên kiểm toán BCTC, nên cũng phải tuân thủ chặt chẽ những mục tiêu kiểm toán chung cho toàn BCTC. Kiểm toán viên thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp, từ đó đưa ra lời xác nhận về mức độ tin cậy của các thông tin tài chính có liên quan. Đồng thời cũng cung cấp những thông tin tài liệu có liên quan làm cơ sở tham chiếu khi kiểm toán các chu trình có liên quan khác. Mục tiêu kiểm toán BCTC Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC được lập trên cơ sở Chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, hoặc được chấp nhận, tuân thủ pháp luật có liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không.
Mục tiêu kiểm toán tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị.