chương 1 gồm ba phần: Phần 1: Trình bày các nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài Phần 2: Trình bày các nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài Phần 3: Xác định khoảng trống cần nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận văn 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài HTTTKT là đề tài luôn được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới hiện nay. Cụ thể, nghiên cứu (Ferguson and Seow, 2011) tiến hành phân tích 395 bài nghiên cứu về lĩnh vực HTTTKT trong vòng 10 năm từ năm 1999 đế năm 2009 trên 18 tạp chí hàng đầu nhằm xác định vấn đề nghiên cứu trọng tâm của HTTTKT có thay đổi hay không, nếu có thì thay đổi như thế nào. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 9 vấn đề trọng tâm đang là xu hướng nghiên cứu HTTTKT, trong đó chiếm 123doc 8 đa số là vấn đề tổ chức và quản lý HTTTKT, đề cập đến các giai đoạn khác nhau của vòng đời phát triển hệ thống có sự tham gia quản lý trong việc sử dụng hệ thống và đánh giá hoạt động hiệu quả của hệ thống chiếm 26%; kiểm soát nội bộ 21% liên quan đến thiết kế và đánh giá kiểm soát nội bộ trong HTTTKT để HTTT đạt yêu cầu, đánh giá và đưa ra quyết định chiếm 19%; phần còn lại chủ yếu là cơ sở dữ liệu, hệ thống chuyên gia, khuôn mẫu HTTTKT chung, kế toán và tư vấn nghề. (Lee et al., 2002) đã nghiên cứu về phương pháp luận để làm cơ sở đánh giá chất lượng thông tin (AIMQ).
Phương pháp AIMQ gồm ba thành phần chính, đó là mô hình thực hiện sản phẩm và dịch vụ cho chất lượng thông tin (PSP/IQ) dùng để quản lý và đánh giá chỉ số chất lượng thông tin về mặt kinh doanh, dụng cụ phân tích chất lượng thông tin (IQA) cung cấp các thang đo cho mô hình và công cụ phân tích lỗ hổng nhằm cải thiện chất lượng thông tin. Nghiên cứu đã cung cấp một hệ thống cơ sở lý luận về chất lượng thông tin từ đó làm nền tảng phục vụ cho việc nghiên cứu các thang đo, phương pháp xác định đo lường chất lượng thông tin nói chung và chất lượng TTKT nói riêng. Có khá nhiều nghiên cứu được thực hiện trong việc xác định các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá chất lượng TTKT và chất lượng HTTTKT. Theo nghiên cứu của (Sacer and Oluic, 2013) cho rằng công nghệ thông tin ảnh hưởng cách thức HTTTKT vận hành như thế nào, đóng góp vào quá trình chuẩn bị, xử lý, trình bày và cung cấp TTKT.
Dữ liệu kế toán được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin phù hợp làm giảm chi phí sản xuất, tăng độ tin cậy của TTKT, tiết kiệm thời gian và năng lượng. Nó góp phần đáng kể cho tính chính xác và kịp thời của TTKT và chất lượng của HTTTKT. Nội dung mô hình hệ thống thông tin thành công (DeLone and McLean, 1992) cho rằng chất lượng TTKT phụ thuộc vào chất lượng HTTTKT bởi vì TTKT là kết quả đầu ra của HTTTKT. Chất lượng HTTTKT được đo lường bởi tính dễ sử dụng, tính ổn định, khả năng tích hợp với các hoạt động kinh doanh khác.
TTKT đạt chất lượng khi lợi ích mà thông tin mang lại lớn hơn chi phí tạo ra thông tin được đo lường thông qua tính phù hợp, tính đáng tin cậy, tính tích hợp, dễ hiểu, kịp thời và bảo mật. Tuy nhiên bài nghiên cứu chưa đề cập đến sự tác động của con 123doc 9 người đến chất lượng TTKT như việc ứng dụng, đào tạo nhân viên và việc kiểm tra sử dụng HTTTKT. Một nghiên cứu tiêu biểu khác liên quan đến chất lượng HTTTKT là nghiên cứu của (Carolina, 2014). Với mẫu nghiên cứu gồm 32 doanh nghiệp sản xuất tại Indonesia, tác giả tiến hành xem xét mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tổ chức đến chất lượng HTTTKT.
Xét thấy sự yếu kém về kiểm soát nội bộ cũng như kế toán, báo cáo tài chính không chính xác, TTKT không đủ điều kiện để báo cáo tài chính đáng tin cậy và không thể sử dụng báo cáo để đưa ra quyết định tại các doanh nghiệp ở Indonesia, nghiên cứu đưa ra ba nhân tố là ảnh hưởng của văn hóa tổ chức, cam kết tổ chức và cơ cấu tổ chức đến chất lượng HTTTKT. Thang đo của yếu tố văn hóa tổ chức được sử dụng gồm 7 thang đo, đó là chú ý đến chi tiết, định hướng kết quả, định hướng con người, định hướng nhóm, tính xung đột, đổi mới và chấp nhận rủi ro. Cam kết tổ chức gồm cam kết tình cảm, cam kết quy phạm và cam kết tiếp tục. Cơ cấu tổ chức được đo lường bởi nhân tố chính thức hóa, ủy quyền, phân chia bộ phận và tầm hạn kiểm soát.
Tính tích hợp, linh hoạt, đáng tin cậy và hữu hiệu là thang đo của biến chất lượng HTTTKT. Kết quả nghiên cứu cho thấy văn hóa tổ chức ảnh hưởng 55,45% đến chất lượng HTTTKT, trong khi đó cam kết tổ chức ảnh hưởng đến 62,17% và mức độ ảnh hưởng của cơ cấu tổ chức là 23,16%, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này không chỉ trong giai đoạn thiết kế phát triển mà cả trong giai đoạn ứng dụng HTTTKT. Do nghiên cứu chỉ dựa trên dữ liệu của các công ty sản xuất, số lượng mẫu còn ít nên tính tổng quát của kết quả nghiên cứu cho toàn bộ nền kinh tế ở Indonesia chưa cao. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của (Fitriati and Mulyani, 2015), (Anggadini, 2008), (Rapina, 2015) cũng chứng minh rằng cam kết tổ chức, cơ cấu tổ chức và văn hóa tổ chức ảnh hưởng đến việc ứng dụng thành công HTTTKT tại Indonesia và đưa ra mối liên hệ giữa ứng dụng HTTTKT thành công và chất lượng TTKT.
Thang đo cho cam kết và văn hóa tổ chức trong hai nghiên cứu này giống với thang đo trong nghiên cứu của (Rapina, 2014). (Fitriati and Mulyani, 2015) dựa trên mô hình hệ thống thông tin thành công của DeLone & McLean và mô hình chấp nhận 123doc 10 công nghệ của Davis để đo lường sự thành công của HTTT. Nghiên cứu cho thấy công nghệ thông tin không ngừng thay đổi và làm ảnh hưởng đến sự phát triển của HTTTKT. Để các chức năng của hệ thống được hoạt động tốt cần có sự hỗ trợ từ con người – người tạo ra hệ thống, vận hành hệ thống và chấp nhận sự thay đổi.
Nhân viên khi có cam kết tổ chức cao thì họ tin vào mục tiêu của công ty và có nhận thức tích cực việc ứng dụng hệ thống, nhận thức về tính dễ sử dụng và tính hữu ích của HTTTKT, từ đó thúc đẩy việc sử dụng hệ thống để cải thiện công việc. Văn hóa tổ chức mô tả cách thức con người sử dụng hệ thống thông tin như thế nào, thiết lập và hướng dẫn trong việc phát triển hệ thống, một trong những yếu tố quan trọng của văn hóa tổ chức là tính đổi mới của con người ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức tính dễ sử dụng, tính hữu ích và việc sử dụng HTTTKT. Sự ảnh hưởng tích cực của hai nhân tố tổ chức này cũng là một phần tác động của sự thành công HTTTKT đến chất lượng TTKT, cụ thể là cải thiện tính phù hợp, tính chính xác, tính kịp thời và tính đầy đủ. (Rapina, 2015) cho rằng một HTTTKT không thể đạt chất lượng tốt nếu thiếu cam kết và văn hóa tổ chức, ngoài ra cần nâng cao chất lượng HTTTKT để cải thiện chất lượng TTKT.
Đây cũng là kết quả nghiên cứu của (Susanto, 2015) về sự ảnh hưởng của chất lượng HTTTKT đến chất lượng TTKT tại Indonesia. Cũng liên quan đến chất lượng HTTTKT, trong một nghiên cứu khác, (Budi and Nusa, 2015) tìm hiểu về mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức, cơ cấu tổ chức và chất lượng HTTTKT. Theo tác giả, văn hóa tổ chức là tổng thể các giá trị, biểu tượng, ý nghĩa, giả định và kỳ vọng được tổ chức bởi một nhóm người làm việc với nhau. Các biến của văn hóa tổ chức được đo lường thông qua bốn yếu tố: giả định cơ bản, giá trị, quy tắc và hiện vật.
Cơ cấu tổ chức được đo lường bởi tính chuyên môn hóa công việc, tầm hạn kiểm soát, hệ thống điều hành, hình thức hóa và sự ủy quyền. Chất lượng HTTTKT được đo lường qua hệ thống quản lý giao dịch, quy trình quản lý giao dịch và quản lý dữ liệu giao dịch. Tuy nhiên tác giả chỉ nghiên cứu trên đơn vị mẫu là 45 trường cao đẳng, đại học. Nghiên cứu cần tiến hành khảo sát thêm tại các đơn vị khác nhau hoặc địa điểm khác nhau để gia tăng tính đại diện 123doc 11 cho tổng thể.
Nghiên cứu của (Al-Hiyari et al., 2013) đưa ra nhân tố mới ảnh hưởng đến đồng thời chất lượng HTTTKT và chất lượng TTKT, đó là nguồn lực nhân sự và cam kết quản lý dựa trên khảo sát các sinh viên ở Malaysia. Kết quả cho thấy có mối quan hệ đáng kể giữa cam kết quản lý, chất lượng dữ liệu và việc ứng dụng HTTTKT cũng như giữa nguồn lực nhân sự, chất lượng HTTTKT và chất lượng TTKT. Tác giả Al-Hiyari và cộng sự đề nghị cam kết quản lý nên hỗ trợ việc ứng dụng HTTTKT và đảm bảo đầy đủ về nguồn lực và đào tạo đầy đủ cho nhân viên. Tuy nhiên nghiên cứu chỉ giới hạn đối với sinh viên, dựa trên bằng chứng định tính.
Vì vậy nghiên cứu trong tương lai nên phân tích dựa trên cơ sở dữ liệu lớn hơn, mở rộng các yếu tố được đề xuất và tiếp cận theo phương pháp định lượng. Kết quả nghiên cứu của (Iskandar, 2015) cho biết cam kết quản lý và năng lực người sử dụng ảnh hưởng đến chất lượng HTTTKT tại các doanh nghiệp nhà nước Indonesia. Tác giả cần bổ sung các thang đo cụ thể cho các biến độc lập và phụ thuộc. Trong khi các nghiên cứu trên tập trung vào các nhân tố của tổ chức tác động như thế nào đến chất lượng HTTTKT thì (Salehi et al., 2010) chứng minh ứng dụng HTTTKT cải thiện tính chính xác của báo cáo tài chính cũng như có thể dự báo cho hoạt động tương lai tại Iran.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có khoảng cách rất lớn giữa mong muốn và thực tế về các vấn đề của HTTTKT. Hơn nữa, bằng chứng thực nghiệm của nghiên cứu (Wongsim and Gao, 2011) tại Thái Lan cho thấy chất lượng thông tin trong quá trình ứng dụng HTTTKT ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định. Việc đưa ra quyết định phụ thuộc vào sự phù hợp của HTTTKT với yêu cầu của tổ chức. Để ứng dụng thành công HTTTKT, điều quan trọng là phải quản lý tất cả các quy trình của hệ thống để đảm bảo chất lượng thông tin.