chương 1, chúng tôi đã trình bày các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu cơ bản về việc đo lường CLTT BCTC. Từ các kết quả nghiên cứu tổng quan cho thấy: “các thuộc tính đánh giá CLTT BCTC được ban hành bởi FASB và IASB 2010 được nhiều công trình nghiên cứu tham chiếu và mang tính hội tụ cao nhất” (Phạm Quốc Thuần, 2010). - Việc tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu được chúng tôi trình bày theo 2 phần lần lượt trong nước và ngoài nước trên cơ sở chọn lọc các công trình tiêu biểu đã công bố có liên quan đến những nội dụng của luận văn. Từ đó, giúp tác giả nhận thấy khoảng trống nghiên cứu và làm nền tảng để thực hiện các bước tiếp theo của luận văn.
11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Giải thích một số thuật ngữ và các khái niệm liên quan: 2.1 Chất lượng thông tin: - Trong các nghiên cứu trước đây, các nhà nghiên cứu đã định nghĩa CLTT theo nhiều cách khác nhau như là: theo Huang, Lee, Wang (1990), CLTT có thể được định nghĩa là thông tin mà thích hợp cho việc sử dụng của người sử dụng thông tin. Còn theo Kahn và Strong (1998) cho rằng thông tin chất lượng là thông tin đáp ứng đặc điểm kỹ thuật hoặc yêu cầu mong đợi của khách hàng. Theo Lesca (1995) lại có định nghĩa khác về CLTT như sau: CLTT là đặc điểm thông tin có giá trị cao đối với người sử dụng nó. Hoặc theo Brien (1991), thông tin có chất lượng là thông tin có nội dung, hình thức, và đặc điểm thời gian có giá trị đối với sử dụng cuối cùng cụ thể.
- Như vậy, thông tin chất lượng là thông tin thích hợp cho việc sử dụng của người sử dụng, thông tin đáp ứng đặc điểm kỹ thuật, hoặc yêu cầu có nội dung, hình thức và đặc điểm thời gian có giá trị đối với việc sử dụng.2 Chất lượng thông tin BCTC: - Có nhiều nghiên cứu về CLTT BCTC, nhưng chưa có định nghĩa thống nhất chung về “chất lượng” (McFie, 2006), nhìn chung hầu hết mọi người sử dụng lại hiểu nó dưới khái niệm là “chất lượng kế toán” (Imhoff, 2003). - McFie (2006) cho rằng nhiều người nhận thức khác nhau về chất lượng, và trong số ít họ có thể đo lường được mức độ này. Ví dụ BCTC được xem là có chất lượng cao đối với các nhà nghiên cứu, nhưng có thể những người sử dụng khác thì không. Vì vậy, thuật ngữ “chất lượng” là một thuộc tính mang tính chất chủ quan mà nó được cảm nhận tùy thuộc vào mỗi cá nhân khác nhau liên quan đến chủ đề cần quan tâm.
Tác giả cũng khẳng định một cách sâu hơn khi phân biệt hai khái niệm “chất lượng BCTC” (Quality of financial reporting) và “BCTC có chất lượng” (Quality financial reporting) là hai khái niệm khác nhau. “ BCTC có chất lượng” muốn đề cập đến sự hoàn hảo, còn “chất lượng BCTC” đề cập đến sự thay đổi từ “thấp hoặc nghèo nàn” đến “cao hoặc hoàn hảo”. 12 - Theo Jonas & Blanchet (2000) đã đưa ra 2 quan điểm chung được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá chất lượng BCTC: Dựa trên nhu cầu của người sử dụng thông tin: đối với quan điểm này, chất lượng BCTC được xác định dựa trên cơ sở của tính hữu ích của thông tin đối với người sử dụng thông tin đó. Dựa trên quan điểm bảo vệ cổ đông, nhà đầu tư chất lượng BCTC sẽ được định nghĩa chủ yếu liên quan đến việc cung cấp cho cổ đông với “công bố đầy đủ và hợp lý” Theo Verdi (2006), định nghĩa: “BCTC chất lượng là BCTC truyền tải chính xác thông tin về hoạt động của công ty, đặc biệt là dòng lưu chuyển tiền mong đợi của nó.” Theo Salechi và Rostami (2011) nghiên cứu về mục đích của BCTC cũng như những thông tin được trình bày trên BCTC, cho rằng: “BCTC hữu ích phải phản ánh được nó hữu ích cho ai và mục đích hướng đến là gì.
Bởi vì BCTC cung cấp thông tin, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông người sử dụng để đưa ra các quyết định kinh tế, tùy vào các đối tượng sử dụng BCTC khác nhau mà thông tin được quan tâm sẽ khác nhau.” Tuy nhiên mục đích chung của BCTC vẫn là cung cấp các thông tin tài chính hữu ích nhằm giúp cho các đối tượng sử dụng đưa ra quyết định kinh tế.3 Thông tin tài chính hữu ích: - Trong khuôn khổ khái niệm về các BCTC được ban hành bởi IASB vào tháng 9 năm 2010 nếu thông tin tài chính là có ích nó phải phù hợp và đại diện trung thực cho những gì nó ngụ ý. Tính hữu ích của thông tin tài chính là nâng cao nếu nó có thể so sánh, có thể xác minh, kịp thời và dễ hiểu. - Dựa trên khuôn khổ pháp lý về các đặc tính của thông tin tài chính hữu ích (IASB 2010), Vũ Hữu Đức (2012) đã tổng hợp đặc tính cơ bản về chất lượng của BCTC là tính thích hợp và thể hiện trung thực như sau: - Tính thích hợp: Thông tin thích hợp là thông tin tài chính khi nó có thể làm thay đổi quyết định của người sử dụng. Thông tin tài chính có khả năng làm thay đổi 13 quyết định của người sử dụng nếu nó có giá trị dự đoán, giá trị khẳng định hoặc cả hai.
Giá trị dự đoán: thông tin tài chính có giá trị dự đoán nếu nó được dùng như một dữ liệu đầu vào cho quá trình dự đoán kết quả trong tương lai của người sử dụng thông tin. Điều này có nghĩa là các thông tin tài chính này có thể giúp người đọc tự đưa ra dự đoán của mình chứ bản thân nó không phải là một con số dự đoán. Giá trị khẳng định: thông tin tài chính cung cấp phản hồi về các dự đoán trước đó. - Giá trị dự đoán và giá trị khẳng định của thông tin tài chính có liên quan đến nhau.
Thông tin có giá trị dự đoán thường cũng có giá trị khẳng định. Ví dụ, thông tin doanh thu cho năm hiện tại, có thể được sử dụng làm cơ sở để dự đoán doanh thu trong năm tương lai, cũng có thể được so sánh với dự đoán doanh thu cho năm nay đã được thực hiện trong năm trước. Kết quả của những so sánh có thể giúp người dùng chỉnh sửa và hoàn thiện quy trình đã được sử dụng để thực hiện những dự đoán trước đó. Trọng yếu: Thông tin trọng yếu khi việc trình bày sai hay bỏ sót ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin khi dựa trên BCTC của một đơn vị cụ thể.
Không thể quy định một mức trọng yếu cụ thể thống nhất được mà phải dựa vào từng tình huống cụ thể. Trọng yếu là 1 khía cạnh của thích hợp. - Thể hiện trung thực: Tính thể hiện trung thực được đảm bảo qua 3 đặc điểm: đầy đủ, trung lập và không sai sót: Đầy đủ: Các thông tin cần thiết phải được phản ánh đầy đủ để người đọc hiểu được hiện tượng kinh tế, bao gồm các mô tả và giải thích. Trung lập: nghĩa là không thiên lệch trong lựa chọn hay trình bày thông tin, nhằm hướng người đọc đến một phản ứng định trước.
Không sai sót: nghĩa là không có sai sót trong mô tả hiện tượng cũng như trong lựa chọn và áp dụng các quy trình lập BCTC. 14 - BCTC đạt chất lượng khi nó hữu ích cho người dùng. Tính hữu ích của BCTC sẽ đạt được khi thông tin trên BCTC được trình bày thích hợp và thể hiện tính trung thực, đảm bảo đồng thời thông qua các tiêu chuẩn sau: - Có thể so sánh: thông tin BCTC sẽ hữu ích hơn nếu ta có thể tiến hành so sánh nội dung BCTC của các đơn vị khác nhau với nhau hay so sánh nội dung BCTC của đơn vị giữa các kỳ khác nhau với nhau. - Có thể kiểm tra: tiêu chuẩn này giúp đảm bảo với người sử dụng BCTC rằng thông tin được thể hiện trung thực.
Có thể kiểm tra tức là nếu chúng ta dựa trên những quan điểm, hiểu biết khác nhau và những người kiểm tra độc lập thì đều thống nhất về những thông tin đã được trình bày. - Kịp thời: tức là thông tin để ra quyết định được cung cấp vào thời điểm nào đó vẫn ảnh hưởng đến quyết định của người đọc thông tin. Tuy nhiên, một số thông tin vẫn kịp thời sau khi kết thúc kỳ báo cáo bởi chúng còn có giá trị trong việc dự đoán và đánh giá xu hướng. - Có thể hiểu được (Dễ hiểu): phân loại, mô tả và trình bày thông tin rõ ràng và chính xác làm cho thông tin dễ hiểu.
- Như vậy, BCTC có chất lượng thì phải có nội dung đảm bảo một số yêu cầu sao cho thông tin được công bố phải hữu ích cho người sử dụng ra quyết định kinh tế đó là thông tin phải trình bày thích hợp và trung thực. Muốn như vậy thì thông tin phải được lập một cách đầy đủ, khách quan, không sai sót để người sử dụng thông tin có thể tin cậy được; thông tin phải thể hiện đầy đủ tình hình tài chính của DN một cách dễ hiểu, có thể kiểm tra và có thể so sánh có như vậy người sử dụng thông tin mới có thể đánh giá được tình hình DN một cách thuận lợi nhất; ngoài ra thông tin phải được cung cấp một cách kịp thời thì người dùng thông tin mới có thể có được những quyết định hiệu quả nhất.2 Tổng quan về thị trường chứng khoán phái sinh: 2.1 Chứng khoán phái sinh (derivaties): - Là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận 15 hoặc tạo lợi nhuận. Các chứng khoán phái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu. Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính, như quyền mua cổ phiếu chứng quyền, hợp đồng quyền chọn.2 Thị trường chứng khoán phái sinh: - Là thị trường giao dịch các loại công cụ phái sinh liên quan đến chứng khoán như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn cổ phiếu, hợp đồng giao sau cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu.