Chương 1: Những vấn đề chung trong kế toán nhà nƣớc và báo cáo tài chính của đơn vị nhà nƣớc. Chương 2: Tình hình lập và trình bày báo cáo tài chính tại đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam. Chương 3: Thiết lập hệ thống báo cáo tài chính cho mục đích chung áp dụng cho đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam. Ngoài ra, đề tài còn bao gồm một số phụ lục bổ sung, minh họa cho phần nội dung nghiên cứu đã trình bày ở trên.
1 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TRONG KẾ TOÁN NHÀ NƢỚC VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA ĐƠN VỊ NHÀ NƢỚC 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TRONG KẾ TOÁN NHÀ NƢỚC 1.1 Đơn vị nhà nƣớc Đơn vị nhà nƣớc là những đơn vị do nhà nƣớc lập nên nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhất định, qua đó thể hiện bản chất và vai trò của nhà nƣớc trong nền kinh tế – xã hội. Nhìn chung, một đơn vị nhà nƣớc có sáu đặc điểm cơ bản sau đây: 1. Đơn vị nhà nƣớc huy động các nguồn lực trực tiếp từ xã hội hoặc gián tiếp thông qua đơn vị nhà nƣớc khác, từ đó tiến hành chi tiêu nhằm duy trì hoạt động của đơn vị và đáp ứng những nhu cầu cơ bản của xã hội. Ngoại trừ doanh nghiệp nhà nƣớc, nhìn chung các đơn vị nhà nƣớc không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
Các hoạt động thu, chi trong đơn vị nhà nƣớc phải đƣợc thực hiện theo đúng chế độ, chính sách và quy định pháp lý đƣợc ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền. Theo đó, hệ thống kế toán của đơn vị nhà nƣớc phải đƣợc thiết lập để xác định và chứng minh cho sự tuân thủ vừa nêu. Thủ trƣởng của đơn vị nhà nƣớc là ngƣời đại diện tiếp nhận và sử dụng các nguồn lực tài chính do nhà nƣớc ủy thác. Vì vậy, họ phải có trách nhiệm giải trình về việc đã sử dụng các nguồn lực tuân thủ theo quy định trong quá trình điều hành hoạt động của đơn vị thông qua việc duy trì một hệ thống kế toán thích hợp cho mục đích giải trình.
Các đơn vị nhà nƣớc sử dụng dự toán nhƣ một công cụ kiểm soát quan trọng và đây cũng là cơ sở để so sánh số liệu hoạt động thực tế với số liệu dự toán. Hoạt động của một đơn vị nhà nƣớc thƣờng đƣợc chia tách thành nhiều nhóm hoạt động với mục đích khác nhau. Theo đó, nguồn lực trong đơn vị cũng đƣợc tách riêng và hình thành nên các quỹ tƣơng ứng với từng hoạt động. Mỗi quỹ đƣợc xem nhƣ một đơn vị tài chính – kế toán độc lập với những cách thức quản lý và ghi nhận nguồn lực khác nhau dựa trên mục đích hoạt động của quỹ (theo Barton 2005; Baker, Lembke, King, Jeffrey, 2008; Rowan, Maurice 2010).
Ở Việt Nam, đơn vị nhà nƣớc đƣợc tổ chức thành các loại hình đơn vị khác nhau. Trong đó, loại hình đơn vị chiếm số lƣợng nhiều nhất là đơn vị HCSN. Những đơn vị này đƣợc thành lập nhằm thực hiện hai chức năng, nhiệm vụ chính của nhà nƣớc là quản lý hành chính nhà nƣớc và cung cấp dịch vụ công cho xã hội. Theo đó, các đơn vị HCSN đƣợc chia thành hai khối chuyên môn hóa: khối hành chính bao gồm các cơ quan nhà nƣớc đảm nhiệm chức năng quản lý hành chính và khối sự nghiệp bao gồm các đơn vị sự nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công cho xã hội.
Những chức năng, nhiệm vụ mang tính chất và mục tiêu hoạt động khác nhau sẽ hình thành nên những đặc điểm tài chính khác nhau trong mỗi loại hình đơn vị. Cơ quan nhà nước Hiện nay, các cơ quan nhà nƣớc đƣợc tổ chức theo mô hình “tam quyền phân lập” bao gồm ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Các cơ quan thuộc nhánh lập pháp bao gồm quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Nhánh hành pháp bao gồm Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn trực thuộc nhƣ các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ, sở, phòng, ban ngành và các cơ quan khác.
Cuối cùng là nhánh tƣ pháp, bao gồm tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân các cấp. Mỗi cơ quan nhà nƣớc sẽ đại diện cho nhà nƣớc thực hiện một hoặc một số chức năng, nhiệm vụ nhất định nhƣ quản lý hành chính, thực hiện các chƣơng trình mục tiêu quốc gia, thực hiện tinh giản biên chế, đào tạo cán bộ, công chức, nghiên cứu khoa học, mua sắm, sửa chữa lớn TSCĐ, đầu tƣ XDCB hoặc các nhiệm vụ đột xuất khác. Trong đó, hoạt động quản lý hành chính là hoạt động chính, diễn ra thƣờng xuyên trong đơn vị. Những hoạt động còn lại có thể phát sinh tùy theo yêu cầu của nhà nƣớc đối với đơn vị trong từng thời kỳ.
Nguồn tài chính đƣợc tài trợ cho các hoạt động chủ yếu đến từ kinh phí do 3 NSNN cấp. Bên cạnh đó, các khoản thu phí, lệ phí và các khoản thu hợp pháp khác nhƣ viện trợ, tài trợ, quà biếu tặng của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nƣớc cũng góp phần duy trì các hoạt động bên trong đơn vị nhƣng không đáng kể. Nhằm xác định mức kinh phí NSNN cấp cho từng đơn vị, hàng năm, căn cứ vào các văn bản hƣớng dẫn lập dự toán của Bộ Tài chính và hƣớng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên, dựa vào kết quả thực hiện nhiệm vụ của năm trƣớc và dự kiến nhiệm vụ của năm kế hoạch, các đơn vị tiến hành lập dự toán ngân sách theo đúng quy định gửi cơ quan chủ quản cấp trên hoặc cơ quan tài chính cùng cấp. Dự toán đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt sẽ trở thành căn cứ quan trọng để KBNN thực hiện cấp phát kinh phí quản lý hành chính cho các đơn vị.
Theo nghị định số 130/2005/NĐ-CP ban hành ngày 17/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nƣớc, kinh phí quản lý hành chính giao cho cơ quan thực hiện chế độ tự chủ bao gồm: kinh phí NSNN cấp, các khoản phí, lệ phí đƣợc để lại theo chế độ quy định và các khoản thu hợp pháp khác. Trong đó, mức kinh phí ngân sách cấp đƣợc xác định dựa trên chỉ tiêu biên chế đƣợc giao (kể cả biên chế dự bị), định mức phân bổ dự toán chi NSNN tính trên biên chế và các khoản chi nghiệp vụ đặc thù theo chế độ quy định. Nhìn chung, mức kinh phí tự chủ mà ngân sách cấp cho một đơn vị sẽ ổn định trong khoảng thời gian nhất định (3 năm). Các đơn vị đƣợc quyền chủ động bố trí, sử dụng kinh phí theo các nội dung, yêu cầu công việc, đƣợc quyết định mức chi cho từng nội dung công việc thông qua việc xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ nhƣng không đƣợc vƣợt quá chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi hiện hành do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quy định và đƣợc quyết định sử dụng đối với toàn bộ kinh phí tiết kiệm đƣợc.
Trƣờng hợp số kinh phí tự chủ đến cuối năm vẫn chƣa đƣợc sử dụng hết thì đơn vị sẽ đƣợc giữ lại và tiếp tục sử dụng trong năm sau. Bên cạnh kinh phí quản lý hành chính đƣợc giao tự chủ, hàng năm các đơn vị còn đƣợc NSNN bố trí kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ khác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Việc phân bổ, quản lý, sử dụng các khoản kinh phí không tự chủ phải đƣợc thực hiện theo các quy định hiện hành của nhà nƣớc. Trƣờng 4 hợp đơn vị không sử dụng hết số kinh phí đƣợc giao thì thông thƣờng kinh phí còn thừa sẽ phải đƣợc hoàn trả về cho NSNN.
Có thể thấy rằng nhà nƣớc đang áp dụng song song hai cơ chế quản lý tài chính – cơ chế tự chủ và cơ chế không tự chủ – đối với các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc trong cùng một cơ quan nhà nƣớc. Đơn vị sự nghiệp Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thành lập nhằm thực hiện các hoạt động cung cấp dịch vụ công cho xã hội. Ở Việt Nam, các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ giáo dục – đào tạo và dạy nghề, y tế – đảm bảo xã hội, văn hoá – thông tin, thể dục – thể thao, khoa học – công nghệ và môi trƣờng, lĩnh vực kinh tế và những lĩnh vực khác. Cũng giống nhƣ cơ quan nhà nƣớc, các đơn vị này đƣợc xem nhƣ những đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán riêng theo quy định của pháp luật.
Nhìn chung, nguồn tài chính của một đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: kinh phí do NSNN cấp, các khoản thu sự nghiệp, các khoản viện trợ, tài trợ, quà biếu tặng và nguồn khác. Trong đó, kinh phí do ngân sách cấp và thu sự nghiệp là hai nguồn tài chính chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của đơn vị. Kinh phí ngân sách cấp cho một đơn vị có thể kể đến nhƣ kinh phí đảm bảo hoạt động thƣờng xuyên (khoản kinh phí này đƣợc xác định sau khi đã cân đối với nguồn thu sự nghiệp và cũng đƣợc cấp theo cơ chế khoán tƣơng tự nhƣ kinh phí quản lý hành chính trong cơ quan nhà nƣớc), kinh phí nghiên cứu khoa học và công nghệ, kinh phí đào tạo bồi dƣỡng cán bộ, viên chức, kinh phí thực hiện các chƣơng trình mục tiêu quốc gia, kinh phí thực hiện ĐĐH, kinh phí đầu tƣ XDCB, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn TSCĐ phục vụ hoạt động sự nghiệp và kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất khác. Các khoản thu sự nghiệp chủ yếu đến từ số phí, lệ phí đã thu đƣợc để lại đơn vị theo quy định của nhà nƣớc và những khoản thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị.
Mục đích của những khoản thu này nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu thƣờng xuyên. Và nếu nguồn thu đủ lớn để trang trải cho tất cả các khoản chi thì NSNN không cần phải cấp thêm kinh phí để duy trì hoạt động thƣờng xuyên tại đơn vị. Tuy nhiên, nguồn thu sự nghiệp phát sinh ở mỗi đơn vị lại 5 không hoàn toàn giống nhau. Điều này phụ thuộc vào lĩnh vực, địa bàn hoạt động, các chính sách, quy định của nhà nƣớc và nhiều yếu tố khác xoay quanh môi trƣờng hoạt động của đơn vị.