Phần mở đầu Khi nắm quyền kiểm soát hoạt động tại công ty con, dựa trên quyền chi phối của mình công ty mẹ có thể gây ảnh hưởng hoặc thậm chí quyết định các giao dịch phát sinh tại các công ty con bao gồm cả giao dịch giữa các công ty này, qua đó ảnh hưởng đến tình hình tài chính của từng công ty. Trong bối cảnh đó việc lập báo cáo tài chính riêng lẻ cho từng công ty sẽ không có nhiều ý nghĩa, do lập báo cáo tài chính chỉ bó hẹp trong từng công ty. Để biết được hiện trạng tài chính và tình hình kinh doanh của một tập đoàn cần phải có bức tranh phản ánh toàn cảnh về tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của tập đoàn. Vì vậy, báo cáo tài chính hợp nhất có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tập đoàn, xuất phát từ tầm quan trọng đó nên tôi đã quyết định chọn đề tài : “ Hoàn thiện việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại tổng công ty Việt Thắng” để từ đó có cái nhìn thực tế về việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại tổng công ty Việt Thắng và đưa ra những hướng giải pháp giúp việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại tổng công ty Việt Thắng được tốt hơn.
Do tính phức tạp của vấn đề nên việc nghiên cứu cũng gặp không ít khó khăn, dù đã cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, mong nhận được ý kiến đóng góp của quý Thầy/Cô. Tổng quan về các đề tài nghiên cứu liên quan Hợp nhất kinh doanh là chiến lược đang được các doanh nghiệp ưu tiên lựa chọn hàng đầu để tồn tại và phát triển trong giai đoạn hiện nay, hợp nhất giúp các doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng cường khả năng cạnh tranh và cũng góp phần gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để đáp ứng nhu cầu quản lý Bộ tài chính đã ban hành chuẩn mực VAS 25 và thông tư số 23/2005/TT- BTC hướng dẫn lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất. Tuy nhiên sự ra đời của thông tư 23/2005/TT-BTC tồn tại quá nhiều bất cập nên đã thu hút nhiều nhà nghiên 2 cứu khoa học trong cả nước nghiên cứu về vấn đề này vì thế, đã xuất hiện nhiều bài báo được đăng tải trên các tạp chí khoa học chỉ rõ những bất cập của thông tư số 23/2005/TT-BTC như bài báo khoa học của TS.
Trần Văn Hợi “Những bất cập trong báo cáo tài chính hợp nhất theo mô hình tập đoàn, công ty mẹ - công ty con, Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 5 (106) – 2012”. Nhận thấy được những bất cập đó ngày 31/12/007 Bộ tài chính đã ban hành thông tư 161/2007/TT-BTC thay thế cho thông tư số 23/2005/TT-BTC. Việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất theo VAS 25 và thông tư số 161/2007/TT-BTC cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu hợp nhất báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Tuy nhiên việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất hiện nay vẫn còn tồn tại những hạn chế do chưa bao quát hết tình hình thực tế, nên hiện nay vẫn còn xuất hiện nhiều công trình khoa học nghiên cứu về hoàn thiện việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất.
Điểm qua một số công trình nghiên cứu khoa học gần đây về hoàn thiện việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất như sau: Luận văn thạc sĩ –“Hoàn thiện việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại Công ty cổ phần đầu tư Lạc Hồng”, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2013. Luận văn thạc sĩ – “Hoàn thiện quy trình lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại Tập đoàn Phan Vũ”, Hà Thị Phương Thảo, 2013. Kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu khoa học này là : đã tìm ra được những tồn tại trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại các tập đoàn, đưa ra được các giải pháp phù hợp giúp hoàn thiện việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại các tập đoàn. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu khoa học này vẫn còn bị hạn chế do việc nghiên cứu chỉ giới hạn trong một tập đoàn, việc đưa ra các kiến nghị sửa đổi hoặc bổ sung những quy định đã ban hành về lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất sẽ không chính xác.
Mục tiêu nghiên cứu 3 Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về hợp nhất báo cáo tài chính, trên cơ sở đó nghiên cứu thực trạng lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại tổng công ty Việt Thắng, từ đó tìm ra những ưu điểm và nhược điểm của công ty trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại tổng công ty Việt Thắng. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu Các thông tư, chuẩn mực kế toán và các chế độ kế toán liên quan đến báo cáo tài chính hợp nhất, cách lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại công ty Việt Thắng. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại công ty Việt Thắng thông qua việc thu thập, phân tích, xử lý số liệu trên bảng cân đối kế toán hợp nhất, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất, báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất và thuyết minh báo cáo tài chính hợp nhất. Phƣơng pháp nghiên cứu Phương pháp thu thập số liệu: số liệu thu thập được chủ yếu thông qua ban lãnh đạo công ty và các chuyên viên phụ trách kế toán.
Phương pháp xử lý số liệu: số liệu sau khi thu thập sẽ được phân tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện về cách lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại công ty. Đóng góp thực tiễn của đề tài Hoàn thiện cách lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại công ty Việt Thắng. Cung cấp thông tin chính xác hơn cho các nhà đầu tư, nhà quản lý, cơ quan nhà nước cũng như các đối tượng có nhu cầu sử dụng báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn 4 Hoàn thiện việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất theo chuẩn mực kế toán số 25 –“ Báo cáo tài chính hợp nhất”. Kết cấu của luận văn Kết cấu của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận chung về báo cáo tài chính hợp nhất Chƣơng 2 : Thực trạng lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại tổng công ty Việt Thắng Chƣơng 3: Hoàn thiện việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại tổng công ty Việt Thắng KẾT LUẬN 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT 1.1 Tổng quan về báo cáo tài chính hợp nhất 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Hợp nhất là một chiến lược kinh doanh đang được áp dụng khá phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Một thương vụ hợp nhất xảy ra giúp cho đơn vị hợp nhất nâng cao năng lực tài chính, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng cường khả năng cạnh tranh và gia tăng lợi nhuận, thực trạng hoạt động hợp nhất kinh doanh trên thế giới đã được hình thành từ rất lâu. Từ năm 1915 các chuyên gia kế toán Mỹ đã nhận thấy các tài khoản riêng rẽ không đủ để phản ánh các nghiệp vụ kế toán trong một tập đoàn, nên rất nhiều công ty lớn đã thay thế tài khoản riêng bằng tài khoản hợp nhất, và người ta cũng nhận thấy rằng việc lập BCTCHN như là một phương tiện để báo cáo tình hình tài chính của một tập đoàn là điều cần thiết, vì vậy từ năm 1900 đến 1940 hợp nhất kinh doanh đã trở nên phổ biến tại Mỹ. Tại Anh các tài khoản hợp nhất đầu tiên xuất hiện vào năm 1922 nhưng phải đợi đến năm 1939 mới có quy định bắt buộc hợp nhất đối với các công ty niêm yết, năm 1940 việc hợp nhất mới được chấp nhận khắp nước Anh. Tại Pháp năm 1967 mới có quy định chính thức các công ty mẹ phải lập BCTCHN và có những quy định cụ thể dành cho những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Tại Việt Nam với xu hướng tự do hoá các hoạt động đầu tư, thương mại và việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đã tạo tiền đề cho việc hình thành các công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ, công ty con hay còn gọi là tập đoàn. Để kiểm soát tình hình tài chính của các tập đoàn, Bộ tài chính đã ban hành chuẩn mực số kế toán số 25-“Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán các khoản đầu tư vào công ty con” ngày 31 tháng 12 năm 2003, quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp lập và trình bày Báo cáo tài chính hợp nhất của một tập đoàn và chuẩn mực kế toán số 11- 6 “ Hợp nhất kinh doanh”, ngày 28 tháng 12 năm 2005 để hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán hợp nhất kinh doanh theo phương pháp mua.2 Hình thức và phân loại hợp nhất 1.1 Khái niệm hợp nhất kinh doanh Hợp nhất kinh doanh là việc kết hợp các doanh nghiệp kinh doanh riêng biệt hoặc các hoạt động kinh doanh riêng biệt thành một đơn vị báo cáo. Kết quả phần lớn các trường hợp hợp nhất kinh doanh là một doanh nghiệp (bên mua) đạt được quyền kiểm soát đối với một doanh nghiệp khác (bên bị mua). Nếu bên mua, mua lại 100% giá trị tài sản thuần của một doanh nghiệp khác, lúc này tư cách pháp nhân độc lập của bên bị mua có thể mất đi, việc chấp nhận sự tồn tại hay giải thể của bên bị mua tùy thuộc vào hội đồng quản trị của bên mua.
Nếu bên mua, mua lại ít hơn 100% (phải trên 50%) giá trị tài sản thuần của một doanh nghiệp khác, lúc này tư cách pháp nhân độc lập của bên bị mua vẫn còn tồn tại nhưng chịu sự kiểm soát của bên mua.