CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘ TIN CẬY BÁO CÁO TÀI CHÍNH Mục tiêu của chương sẽ trình bày các công trình nghiên cứu của quốc tế và trong nước liên quan đến đề tài về việc đánh giá chất lượng của các BCTC giữa niên độ của các doanh nghiệp. Từ đó làm cơ sở để phân tích, đánh giá: Trình bày nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài. Trình bày nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài. Rút ra khe hổng nghiên cứu.
Đưa ra định hướng nghiên cứu của đề tài.1 Các nghiên cứu Nước ngoài liên quan đến đề tài Có nhiều nghiên cứu khác nhau liên quan đến các nhiều khía cạnh của đề tài được thể hiện ở các nghiên cứu sau: Ettredge et al. và cộng sự (2000), “The effect of the external accountant’s review on the timing of adjustments to quarterly earnings”. Journal of Accounting Research 38 (1): 195–207. Dữ liệu được thu thập là mẫu của 200 công ty có báo cáo thực hiện việc điều chỉnh lại ít nhất 1 lần, trong thời gian 1988 – 1989.
Nghiên cứu đánh giá của kế toán về thời điểm điều chỉnh thu nhập hàng quý, phương pháp được sử dụng là mô hình hồi quy OLS. Kết quả chỉ ra rằng thu nhập hàng quý của họ phù hợp với các đánh giá kịp thời sẽ chuyển một số điều chỉnh từ quý IV sang các quý khác. Một số DN hiện có thu nhập hàng quý của họ chỉ được xem xét vào cuối năm việc xem xét kịp thời sẽ trì hoãn việc phát hành thu nhập tạm thời. Đây cũng là điểm cho thấy có sự tác động đến chất lượng báo cáo của doanh nghiệp.
Theo nghiên cứu của Jan Barton and Paul J. Simko (2002) “The Balance Sheet as an Earnings Management Constraint”. The Accounting Review: Supplement 2002, Vol. Nghiên cứu về Bảng cân đối kế toán dưới sự ràng buộc của thu nhập, với mẫu nghiên cứu bao gồm 3,649 công ty được nghiên cứu trong giai đoạn 1993 – 1999.
Nghiên cứu kiểm tra sự trung thực của BCTC thông qua các chỉ tiêu lợi nhuận, đồng thời cũng chỉ ra được ảnh hưởng của các biến đến độ tin cậy 7 của BCTC bao gồm Công ty kiểm toán; Quy mô công ty; Lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS). Nghiên cứu của Glaum, Lichtblau và Lindemann (2004), “The Extent of Earnings Management in the U. Journal of International Accounting Research: Fall, Vol. 45-77 bài nghiên cứu về mức độ quản lý thu nhập ở Hoa Kì và Đức, cho thấy rằng các công ty cung cấp tin không tốt về thu nhập trước khi công bố BCTC giữa niên độ để ngăn chặn các vụ kiện tốn kém.
Dữ liệu cho các thử nghiệm được lấy từ cơ sở dữ liệu của Woldscope và Osiris gồm 38,714 quan sát của các công ty Mỹ và 3,524 quan sát của các công ty Đức trong những năm 1991 đến 2000. Nghiên cứu rút ra kết quả cho thấy quản lý thu nhập của các doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm của doanh nghiệp như quy mô, đòn bẩy và tăng trưởng. Một nghiên cứu khác của J. Graham et al (2005), “The Economic Implications Of Corporate Financial Reporting”.
Journal of Accounting and Economics Volume 40, Issues 1–3, December 2005, Pages 3-73. Nghiên cứu đã tiến hành một cuộc khảo sát 400 Giám đốc tài chính (CFO) để xác định các yếu tố quyết định đến thu nhập và việc công cố các báo cáo. Mục tiêu nghiên cứu nhằm giải quyết các câu hỏi: Người quản lý có quan tâm về chuẩn mực về thu nhập hay xu hướng của lợi nhuận và nếu có thì chỉ tiêu nào được coi là quan trọng? Những yếu tố nào thúc đẩy các công ty áp dụng theo ý và thậm chí hi sinh giá trị kinh tế, quản lý báo cáo thu nhập? Giải thích việc quản lý thu nhập và công bố tự nguyện. Kết quả cho thấy rằng CFO tin rằng thu nhập, lưu chuyển tiền tệ là những số liệu rất quan trọng.
Hai tiêu chuẩn được xem là quan trọng nhất là lợi nhuận hàng quý và sự so sánh với cùng quý của năm trước. Việc đạt được và vượt quá tiêu chuẩn là rất quan trọng. Người quản lý sẽ có sự đánh đổi giữa nhu cầu ngắn hạn “để mang lại thu nhập và mục tiêu lâu dài cho việc ra quyết định đầu tư. CFO cho rằng việc duy trì thu nhập uy tín trên thị trường sẽ giúp duy trì và gia tăng cổ phiếu của công ty họ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc duy trì thông tin đáng tin cậy sẽ mang lại niềm tin cao đối với người sử dụng thông tin và giúp doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh doanh tốt hơn. 8 Nghiên cứu của J. Boritz (2006), “Why Do Firms Voluntarily Have Interim Financial Statements Reviewed by Auditors?”. SSRN Electronic Journal, School of Accountancy University of Waterloo Waterloo.
Nghiên cứu thực hiện điều tra các đặc điểm của các công ty quyết định thực hiện các kiểm toán BCTC hàng quý. Sử dụng mẫu nghiên cứu là các công ty đại chúng Canada. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin về các công ty đại chúng Canada tự nguyện lựa chọn các cuộc họp đánh giá dựa trên các BCTC hàng quý của họ, cung cấp bằng chứng ủng hộ các giả thuyết rằng sự phức tạp của công ty và cơ hội tăng trưởng ảnh hưởng đến việc khuyến khích các công ty thực hiện kiểm toán BCTC giữa niên độ của họ. Các thông tin liên quan và đáng tin cậy của BCTC hợp nhất tập trung vào BCTC giữa niên độ hơn là BCTC hằng năm cũng được thể hiện trong nghiên cứu Boritz (2006:48).
Nghiên cứu cũng trình bày rằng nghiệp vụ kế toán, kiểm toán chú trọng nhiều đến BCTC hằng năm hơn là các báo cáo theo quý. Bài nghiên cứu xem xét về sự thu nhập ròng và doanh thu ròng của từng quý trong 4 năm. Và rút ra kết luận rằng có sự thay đổi các điều chỉnh liên quan đến từng quý, yếu tố tác động đến chất lượng BCTC của doanh nghiệp. Bên cạnh đó cũng có nghiên cứu cho thấy rằng, với các nhà phân tích ở Singapore nơi báo cáo hàng quý là tự nguyện.
Về mặt Lợi ích nghiên cứu cho thấy rằng báo các hàng quý có liên quan đến các nhà phân tích; Hạn chế có liên quan đến biến động giá; Công ty có triển vọng tăng trưởng cao, quy mô lớn và có định hướng tốt sẽ tiết lộ thu nhập trên cở sở hàng quý, đó là theo nghiên cứu của Rahman, Tày, Ong, và Cai (2007), “Quarterly Reporting In A Voluntary Disclosure Environment: Its benefits, drawbacks and determinants”. The International Journal of Accounting, Volume 42, Issue 4, December 2007, Pages 416-442. Một nghiên cứu khá hữu ích của Dechow và các cộng sự (2010), “Understanding earning quality: A review of the proxies, their determinants and their consequences”. Journal of Accounting and Economics, 50: 344-401, nghiên cứu về đo lường chất lượng lợi nhuạ̛n, các nha̛n tố ảnh hưởng và kết quả của chất lượng lợi nhuạ̛n tổng hợp từ trên 300 nghiên cứu trên thế giới, điều đáng quan tâm trong kết quả của nghiên cứu này đã tổng hợp và phân loại các nhân 9 tố ảnh hûởng chất lûợng lợi nhuận nói riêng và chất lûợng BCTC nói chung ra 6 nhóm nhân tố: (1) đạ̛c điểm cơng ty bao gồm hiẹ̛u quả cơng ty, tình trạng nợ, sự ta̛ng trưởng và đầu tư, quy mơ cơng ty, (2) thực tiễn bao gồm phương pháp kế toán, phương pháp tre̛n cơ sở nguye̛n tắc với tre̛n cơ sở quy định và thực tiễn BCTC khác, (3) quản trị cơng ty và kiểm soát nợi bợ bao gồm hợi đồng quản trị, tỷ lẹ̛ sở hữu vốn, chế đợ đãi ngợ, cơ chế kiểm soát nợi bợ., (4) Kiểm toán bao gồm rủi ro kinh doanh, loại cơng ty kiểm toán, tính đợc lạ̛p của kiểm toán., (5) đợng lực của thị trường vốn bao gồm đợng lực khi cơng ty ta̛ng vốn, mục tie̛u lợi nhuạ̛n đạt được, và ()) các nha̛n tố be̛n ngoài khác như ye̛u cầu của thị trường vốn, quá trình chính trị, các quy định lie̛n quan đến thuế.
và mỗi nghiên cứu thûờng tập trung vào một trong các nhóm nhân tố trên. Một nghiên cứu khác của Karen Lightstone và cộng sự (2012), “Information Quality of Interim Financial Statements” CAAA/ACPC, AP Vol. Nghiên cứu về chất lượng của thông tin kế toán giữa niên độ, dựa trên nền tảng nghiên cứu của Boritz (2006). Nghiên cứu khảo sát đánh giá xem các điều chỉnh trong quý IV có sự khác biệt so với các quý của ba năm trước hay không.
Mẫu nghiên cứu bao gồm 353 công ty đại chúng Canada và được lấy dữ liệu về thông tin tài chính trong bốn năm từ 2003 – 2006. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự biến động trong thu nhập ròng của ba quý đầu so với quý IV, sự kiểm toán BCTC giữa niên độ chưa được thực hiện nhiều trong mẫu công ty nghiên cứu, có sự thay đổi về thu nhập ròng, doanh thu ròng. Cho thấy để đánh giá chất lượng, ĐTC của một BCTC chúng ta cần quan tâm đến các nhân tố như thu nhập ròng, kiểm toán công ty để thấy rõ được sự điều chỉnh trong thông tin báo cáo, các số liệu được trình bày một cách đúng đắn hay không, hay vì lợi ích của doanh nghiệp mà công ty thực hiện các điều chỉnh của họ. Theo Gajevszky (2015), “Assessing Financial Reporting Quality: Evidence from Romania”.
Audit Financiar, Vol. Nghiên cứu điều tra chất lượng của BCTC của các đơn vị được niên yết trên sở giao dịch chứng khoán 10 Bucharest, trước và sau khi áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) cho báo cáo tài chính cá nhân, dữ liệu nghiên cứu được lấy trong ba năm từ 2011 đến 2013. Mẫu nghiên cứu gồm 50 công ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Bucharest. Trong nghiên cứu về đánh giá chất lûợng BCTC tại Romania đã đo lûờng chất lûợng BCTC thông qua chất lûợng lợi nhuận bằng mô hình biến kế toán dồn tích của Dechow và các cộng sự (1995) và mô hình của Kothari và các cộng sự (2005).
Phát hiện chính trong nghiên cứu này là khi phân tích các khoản tích luỹ thì kết quả cho thấy độ lệch chuẩn thấp nhất của phần dư là năm 2013 (0.067), giá trị cao nhất là năm 2011 (0.509) và năm 2012 độ lệch chuẩn vẫn thấp hơn 2011 cho thấy chất lượng dồn tích được cải thiện nhờ áp dụng IFRS. Một mô hình đo lûờng khác cũng đã đûợc sử dụng để đo lûờng chất lûợng lợi nhuận nói riêng và chất lûợng BCTC nói chung đó là mơ hình EBO của Ohlson (1995), mô hình này thuộc nhóm mô hình giá trị thích hợp của TTKT, khác với các mô hình trên, chúng đo lûờng chất lûợng lợi nhuận dựa trên cô sở kế toán.