Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Chương 4: Phân tích đánh giá kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Các khái niệm có liên quan 2.1 Đầu tư và hiệu quả đầu tư Theo nghĩa rộng đầu tư là một hoạt động sử dụng các nguồn lực có sẵn để có kết quả có lợi hơn trong tương lai. Theo nghĩa hẹp đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực hiện tại như tài chính, vật chất, trí tuệ và sức lao động để tiến hành sản xuất kinh doanh trong một thời gian nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Người sử dụng các nguồn lực đó gọi là nhà đầu tư, nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam. Theo Ngân hàng thế giới, đầu tư là sự bỏ vốn vào một lĩnh vực nhất định như sản xuất kinh doanh dịch vụ trong thời gian dài và đưa vốn vào hoạt động trong nhiều chu kỳ kế tiếp nhằm thu hồi vốn lẫn lợi nhuận cho nhà đầu tư và lợi ích kinh tế xã hội cho đất nước.
Theo luật đầu tư 2005, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Các nhà đầu tư thường thực hiện việc đầu tư một cách trực tiếp hay gián tiếp. Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư kinh doanh gián tiếp là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế, đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Đầu tư giúp các doanh nghiệp mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, sử dụng tối đa hiệu quả các nguồn lực. Khả năng sinh lợi là điều kiện tiên tiến để đầu tư, nếu doanh nghiệp đầu tư quá mức hoặc dưới mức có thể dẫn đến tình trạng không 4 có khả năng sinh lợi. Tùy theo mục đích của mỗi doanh nghiệp mà nhà quản lý sẽ quyết định đầu tư ở hạng mục nào, nghiên cứu đi theo hướng đầu tư tài sản cố định.
Đầu tư tài sản cố định là hoạt động đầu tư nhằm mua sắm, cải tạo, mở rộng tài sản cố định hữu hình và vô hình của doanh nghiệp. Hiệu quả đầu tư là tất cả những lợi ích do việc thực hiện đầu tư đem lại như lợi ích kinh tế xã hội, lợi ích của chủ đầu tư và lợi ích cho người sử dụng. Đó là một phạm trù kinh tế thể hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời gian nhất định. Khi phân tích hiệu quả đầu tư ta sử dụng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đánh giá, đó là so sánh những gì bỏ ra và những gì đạt được.
Trong nghiên cứu của tác giả hiệu quả đầu tư được tính bằng sự chênh lệch giữa sự gia tăng ròng của tài sản hữu hình và vô hình (chi phí bỏ ra) với sự thay đổi trong doanh số bán hàng (kết quả đạt được). Bên cạnh đó, để đánh giá hiệu quả đầu tư ta thường sử dụng các chỉ tiêu như: Thu nhập thuần của dự án, hệ số thu hồi vốn (NPV), tỷ suất sinh lợi vốn tự có (ROE), chỉ số vòng quay vốn lưu động, tỷ số lợi ích chi phí (B/C), thời gian thu hồi vốn (T), hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR), chỉ tiêu điểm hòa vốn. Với những quyết định sai lầm trong đầu tư có thể dẫn đến tình trạng lãng phí vốn, đầu tư không hiệu quả và gây tổn thất thiệt hại tài sản và hậu quả nghiêm trọng đối với doanh nghiệp. Ngược lại một quyết định đúng đắn sẽ đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, góp phần gia tăng giá trị tài sản cho doanh nghiệp.2 Báo cáo tài chính và độ tin cậy báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là các thông tin kinh tế được kế toán viên trình bày dưới dạng bảng biếu, cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và cho những người có nhu cầu sử dụng chúng trong việc đưa ra các quyết định về kinh tế.Hall (2011) báo cáo tài chính được xem là thành phần chính yếu của thông tin quản lý, đảm nhận vai trò quản lý nguồn lực thông tin tài chính cho các doanh nghiệp.
5 Báo cáo tài chính được lập ra với mục đích: - Tổng hợp và trình bày về tình hình tài sản, nguồn vốn, công nợ, kết quả kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. - Cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính cần thiết khi đánh giá tình hình, kết quả hoạt động của doanh nghiệp ở hiện tại và dự đoán trong tương lai. Vì mức độ quan trọng của báo cáo tài chính nên nó được lập dựa theo những chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 và thông tư 200/2014/TT-BTC quy định khi lập báo cáo tài chính cần tuân thủ những nguyên tắc cơ bản như sau: - Kinh doanh liên tục: Khi lập báo cáo tài chính doanh nghiệp phải đánh giá khả năng kinh doanh liên tục và căn cứ vào đó để lập.
Tuy nhiên trường hợp nhận biết của sự phá sản giải thể hoặc giảm phần lớn quy mô hoạt động của doanh nghiệp hoặc có những nhân tố có thể ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất kinh doanh nhưng việc áp dụng nguyên tắc kinh doanh liên tục vẫn còn phù hợp thì cần diễn giải cụ thể, chi tiết trường hợp đó. - Trình bày trung thực: Thông tin được trình bày trung thực là thông tin được phản ánh đúng với bản chất của nó, không bị bóp méo hay xuyên tạc dù là vô tình hay cố ý. Người sử dụng thông tin luôn đòi hỏi thông tin phải trung thực để họ đưa ra được những quyết định đúng đắn. Do vậy, xuất phát từ mục đích cung thông tin cho người sử dụng thì nguyên tắc đầu tiên của việc lập báo cáo tài chính là phải trình bày trung thực.
Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo dựa trên các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế. - Nguyên tắc dồn tích: Các báo cáo tài chính (trừ báo cáo luân chuyển tiền tệ) phải được lập theo nguyên tắc dồn tích. Theo nguyên tắc này, các giao dịch và sự kiện liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu, thực chi tiền và được ghi nhận vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của các kỳ kế toán liên quan. 6 - Lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán: chính sách kế toán là những nguyên tắc, cơ sở, điều ước, quy định và thông lệ được doanh nghiệp áp dụng trong quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính.
Cần lựa chọn chế độ kế toán phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp và phải được Bộ Tài Chính chấp nhận. Khi đã lựa chọn và áp dụng chế độ kế toán phù hợp, báo cáo tài chính phải được lập và trình bày theo những nguyên tắc của chế độ kế toán đó. - Trọng yếu và sự hợp nhất: Từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt trong báo cáo tài chính. Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng.
- Nguyên tắc bù trừ: Khi lập các báo cáo tài chính không được phép bù trừ giữa tài sản và các khoản công nợ, giữa thu nhập với chi phí. Trong trường hợp vẫn tiến hành tiến hành bù trừ giữa các khoản này thì phải dựa trên cơ sở tính trọng yếu và phải diễn giải trong phần Thuyết minh báo cào tài chính. - Nguyên tắc nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán mà doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.
Theo quy định của chế độ kế toán hiện hành của Việt Nam thì các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh khi lập báo cáo tài chính cần có những bản báo cáo tài chính sau: Thứ nhất, Bảng cân đối kế toán là bảng báo cáo tổng hợp khái quát toàn bộ tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất định. Thứ hai, Bảng báo cáo kết quả kinh doanh thể hiện kết quả kinh doanh và lợi nhuận và trách nhiệm với Nhà nước. Thứ ba, Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ: giải thích các câu hỏi liên quan đến luồng tiền. Thứ tư là Bảng thuyết minh báo cáo tài chính cung cấp thêm về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, chế độ kế toán và lý do biến động của các đối tượng quan trọng.
Thời hạn nộp báo cáo tài chính tại Việt Nam được phân loại thành báo cáo tài chính quý và năm. Báo cáo tài chính quý phải nộp chậm nhất là 20 ngày kể từ 7 ngày kết thúc kỳ kế toán quý, đối với công ty mẹ, Tổng công ty nhà nước chậm nhất là 45 ngày. Báo cáo tài chính năm phải nộp chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm, đối với công ty mẹ, Tổng công ty nhà nước chậm nhất là 90 ngày.