Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài trình bày báo cáo bộ phận. Trong chương này tác giả sẽ giới thiệu về các cơ sở lý thuyết và từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu cho đề tài này. Khái niệm báo cáo bộ phận Theo Ijiri (1995), “ Báo cáo bộ phận có thể được định nghĩa là các số liệu tài chính riêng của các đơn vị, công ty con, hoặc những bộ phận khác nhau của một công ty”. Người sử dụng báo cáo tài chính, cộng đồng chuyên gia phân tích và các nhà nghiên cứu được hỗ trợ các thông tin bổ sung về chia tách các bộ phận thông qua việc tìm hiểu báo cáo bộ phận.
Tất cả các công ty niêm yết phải công bố lợi nhuận và chi phí bộ phận với những dữ liệu và thông tin có liên quan, chẳng hạn như doanh thu bên ngoài và nội bộ, tài liệu các khoản mục không dùng tiền mặt, thu nhập và chi phí… Bên cạnh đó, công ty này cũng được yêu cầu phải cung cấp cho người dùng để hiểu sự khác biệt giữa thông tin hợp nhất và các thông tin được cung cấp dưới báo cáo bộ phận. Theo những nguyên tắc được chấp nhận chung (GAAP), “ Báo cáo bộ phận là báo cáo của các bộ phận hoạt động ở một công ty trong việc trình bày kèm theo báo cáo tài chính của nó”. Báo cáo bộ phận cần thiết cho các công ty đại chúng và không cần thiết cho những công ty tư nhận. Báo cáo bộ phận được thiết kế để cung cấp thông tin cho những nhà đầu tư và chủ nợ mà có liên quan đến các kết quả tài chính của công ty.
Qua thông tin về báo cáo bộ phận, họ có thể sử dụng làm cơ sở cho các quyết định liên quan đến công ty. Một bộ phận tham gia vào các hoạt động kinh doanh của công ty mà từ đó bộ phận này có thể kiếm thu nhập và phải chịu chi phí phát sinh, có thông tin tài chính riêng biệt sẵn có, đồng thời kết quả thường xuyên được xem xét bởi giám đốc điều chỉnh của tổ chức thông qua việc đánh giá hoạt động và phân bổ nguồn lực thì cần thực hiện theo các quy tắc để xác định các thông tin cần phải được báo cáo. 16 Như vậy, các khái niệm báo cáo bộ phận nhìn chung cho thấy báo cáo này được trình bày nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin được đưa ra, làm cơ sở hỗ trợ thêm cho việc xem xét và đưa ra quyết định của những người sử dụng báo cáo tài chính của doanh nghiệp bên cạnh việc xem xét các số liệu kinh tế tài chính tổng quát. Những khái niệm trên hầu hết hướng đến việc xem xét báo cáo bộ phận dựa theo mục đích mà báo cáo này hướng đến, riêng quan điểm của mình, tác giả cho rằng báo cáo bộ phận là báo cáo trình bày chi tiết về những thông tin kinh tế tài chính cần thiết mang tính trọng yếu, ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính mà đã được công bố số liệu tổng quát trước đó.
Báo cáo bộ phận theo chuẩn mực kế toán quốc tế 2. Lịch sử ra đời các chuẩn mực kế toán quốc tế về báo cáo bộ phận Trong phần này, tác giả sẻ tổng hợp theo một trình tự thời gian những sự kiện quan trọng được xem xét trong quá trình phát triển của báo cáo bộ phận. Để rõ ràng hơn, những sự kiện được theo dõi trên cả lãnh thổ Mỹ (FASB) và những sự kiện được thực thi bởi IASB. Theo Skousen (1970) lịch sử của báo cáo bộ phận quay ngược lại tháng 9 năm 1964.
Đây là thời điểm Tiểu ban chống độc quyền của Ủy ban Thượng viện Hoa Kỳ bắt đầu buổi điều trần về tư pháp liên quan đến tập trung kinh tế trong ngành công nghiệp Mỹ. Trong suốt năm này, các cuộc họp đã diễn ra giữa SEC và đại diện các nhà phân tích tài chính và kế toán trong các ngành công nghiệp Mỹ. Vào cuối năm 1966, một dự án mang tên FEI “ Báo cáo tài chính của những công ty đa dạng” đã được thiết lập. Tháng 12 năm 1974 IASC ban hành E3, một bản dự thảo tiếp xúc của chuẩn mực về báo cáo tài chính hợp nhất, trong đó ngụ ý rằng các báo cáo tài chính của các công ty con khác nhau nên được trình bày kèm theo trong báo cáo tài chính hợp nhất.
Tuy nhiên, E3 dù bị bắt buộc bởi IASC nhưng lại chứa đựng những yêu cầu phân chia bộ phận được diễn đạt khá sơ sài. 17 Năm 1976 SFAS 14:’ Báo cáo tài chính cho các bộ phận của doanh nghiệp kinh doanh”. Đây thực sự là chuẩn mực kế toán đầu tiên liên quan đến báo cáo về thông tin bộ phận được ban hành sau những kêu gọi của các tổ chức đại diện cho người sử dụng báo cáo tài chính như Liên đàon chuyên viên phân tích tài chính, nhóm nghiên cứu kế toán quốc tế, Hội đồng chứng khoán New York. Chuẩn mực này đòi hỏi công bố thông tin ở các hai bộ phận là theo lĩnh vực kinh doanh và phạm vị địa lý.
Tháng 3 năm 1980 IASC ban hành ED E15 “ Báo cáo thông tin tài chính bởi bộ phận” ra đời, dự thảo này đã được ban hành dựa trên SFAS số 14 của Mỹ, theo phương pháp tiếp cận rủi ro và lợi ích có được, có nghĩa là việc đưa ra quyết định dựa trên cơ sở chính là sự phân chia, khi đó sự lựa chọn theo cách phân chia dựa trên các sản phẩm, dịch vụ liên quan hoặc khu vực địa lý sẽ xác định hầu hết các rủi ro và lợi ích của công ty. Năm 1992 Văn bản định vị của AIMR ra đời liệt kê những thiếu sót lặp đi lặp lại trong các báo cáo bộ phận hiện nay ở hầu hết các báo cáo tài chính được công bố ở Mỹ. Năm 1994 AICPA tổ chức một ủy ban đặc biệt về báo cáo tài chính. Ủy ban này đã được thành lập như một câu trả lời cho văn bản định vị năm 1992 của AIMR nhằm để điều tra nhu cầu thông tin của các nhà đầu tư và chủ nợ.
Tháng 12 năm 1995 IASC đã công bố dự thảo tiếp xúc E51 “ Báo cáo thông tin tài chính bởi bộ phận” mà qua đã thấy có sự thay đổi trong cách xác định bộ phận được công bố. Dự thảo này cho thấy những thay đổi đáng kể về việc công bố thông tin tài chính của các sản phẩm và dịch vụ mà công ty cung cấp, cũng như thông tin về các hoạt động trên toàn thế giới của họ. Năm 1997 FASB thay thế SFAS 14 thành SFAS số 131 “ Công bố về các bộ phận của một doanh nghiệp và thông tin liê nquan” vì thông qua một nghiên cứu được thực hiện FASB phát hiện thấy nhiều công ty đã không công bộ thông tin bộ phận được mong đợi. Họ lạm dụng sự không rõ ràng trong các định nghĩa trong SFAS 14 để báo cáo mình là một công ty chỉ một bộ phận duy nhất.
18 Tháng 8 năm 1997 IASC sửa đổi IAS 14 thành IAS 14R. IAS 14 “ Báo cáo bộ phận” thường bị các chỉ trích về ngôn ngữ mềm mại và yêu cầu chung chung. Nó cho phép quá nhiều giải thích khác nhau cũng như không cung cấp đầy đủ hướng dẫn và định nghĩa chi tiết, đồng thời không yêu cầu tiết lộ dữ liệu mô tả về các bộ phận. Do đó IASB đã quyết định sửa đổi chuẩn mực này đối với một số vấn đề gồm quy định ngưỡng định lượng rõ ràng để xác định các phần được báo cáo, thay đổi định nghĩa rộng thành các định nghĩa rõ ràng về tất cả thuyết minh và cung cấp những hướng dẫn cụ thể hơn.
Ngày 1 tháng 7 năm 1998 là ngày hiệu lực của IAS 14R. Vào tháng 9 năm 2002, FASB và IASB đã thực hiện một thỏa thuận để loại bỏ nhiều sự khác biệt giữa US GAAP và IFRS. Năm 2005, dự án hội tụ giữa IFRS và US GAAP diễn ra. Việc gia tăng mạnh trong dự án hội tụ đã xảy ra bởi vì Nghị viện châu Âu bỏ phiếu vào năm 2002 chấp thuận một quy định yêu cầu tất cả các công ty EU niêm yết phải chuẩn bị báo cáo hợp nhất theo quy định của IAS bằng cách mới nhất trong năm 2005.
Ngày 19 tháng 1 năm 2006 IASB ban hành Dự thảo tiếp xúc số 8 “ Bộ phận hoạt động”. Theo đề nghị của IFRS, nó sẽ thay đổi cho IAS 14R hiện có. Sự khác biệt lớn giữa dự thảo này và IAS 14R là sự thay thế phương pháp tiếp cận rủi ro và lợi ích bằng cách tiếp cận theo phương pháp quản lý. Cho dù nó được sử dụng bởi những nhà quản lý trong việc ra quyết định, chuẩn mực cũng đòi hỏi đơn vị phải báo cáo thông tin về doanh thu có được từ các sản phẩm dịch vụ của mình, các quốc gia mà nó kiếm được doanh thu, tài sản đang nắm giữ và những khách hàng lớn.
Ngày 30 tháng 11 năm 2006 ra đời IFRS 8 “ Bộ phận hoạt động”. Trong ED 8, IASB đã đề nghị mở rộng phạm vị của IFRS cho tất cả các đơn vị có trách nhiệm công khai (/ hiểu là công ty phát hành cổ phiếu) và không chỉ các đơn vị có chứng khoán được giao dịch công khai. Ngày 1 tháng 1 năm 2009 là ngày có hiệu lực IFRS 8. Lợi ích và chỉ trích xung quanh báo cáo bộ phận Các tổ chức với tính chất đa dạng trong lĩnh vực kinh doanh và địa bàn hoạt động sẽ phải gánh chịu mức độ khác biệt về các rủi ro và lợi ích.
Trong trường hợp này, báo cáo bộ phận thiết lập các nguyên tắc để báo cáo thông tin tài chính về các loại sản phẩm, dịch vụ khác nhau và các khu vực địa lý khác nhau mà một doanh nghiệp đang hoạt động. Theo Prather-Kinsey, J. (2004) thì những yêu cầu tiết lộ thông tin tách biệt, báo cáo bộ phận cung cấp cho người sử dụng báo cáo tài chính một cái nhìn tốt hơn về hiệu suất và triển vọng của các bộ phận trong công ty thay vì của toàn bộ tổ chức. Các tiêu chuẩn báo cáo bộ phận cung cấp sẽ cho các thông tin nội bộ quan trọng, rất cần thiết với các bên liên quan.
Dù là một công ty nhỏ hay một công ty lớn, các thông tin theo yêu cầu của người sử dụng dường như giống nhau. (2000) đã chỉ ra rằng có sự công bằng khi tất cả các công ty cạnh tranh đều tiết lộ những thông tin tương tự về số lượng và chất lượng.