CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Báo cáo tài chính: 1.1 Khái niệm: Báo cáo tài chính là công cụ để phản ánh, truyền đạt thông tin tổng hợp và toàn diện về thực trạng tài chính, tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp đạt được từ việc khai thác các nguồn lực kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ, nhằm thực hiện vai trò cung cấp thông tin hữu ích cho nhiều đối tượng sử dụng để ra quyết định. Các hệ thống kế toán và BCTC doanh nghiệp luôn được xây dựng và dần hoàn thiện theo quá trình vận động, phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, để hướng đến mục tiêu cung cấp thông tin kinh tế, tài chính hữu ích cho người sử dụng. BCTC trở nên quan trọng đối với doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng bên ngoài là bởi tính hữu ích vốn có của nó, thể hiện qua những lợi ích mang lại cho những người sử dụng thông tin trên báo cáo, dựa trên sự đảm bảo các tính chất đặc trưng của thông tin như phù hợp, đáng tin cậy, có thể so sánh và có thể hiểu. Hệ thống BCTC gồm những văn bản quy định những vấn đề chung về BCTC; Hệ thống biểu mẫu BCTC; Quy định về nội dung và phương pháp lập BCTC.
Tùy thuộc vào đặc điểm, mô hình kinh tế, cơ chế quản lý và văn hóa mà về hình thức, cấu trúc, tên gọi của các BCTC có thể khác nhau ở từng quốc gia. Để thông tin trên BCTC trở nên hữu ích cho người sử dụng cần thiết đảm bảo thực hiện các đặc điểm chất lượng của BCTC.2 Các đặc điểm chất lượng của BCTC: Các đặc điểm chất lượng là các tính chất giúp cho các thông tin trên báo cáo tài chính trở nên hữu ích cho người sử dụng. Có bốn đặc điểm chất lượng là : Có thể hiểu được, thích hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh được. HV: VÕ THU PHỤNG 2 LUẬN VĂN CAO HỌC HDKH: PGS.TS BÙI VĂN DƯƠNG Có thể hiểu được.
Thông tin trên báo cáo tài chính phải trình bày sao cho người đọc có thể hiểu được chúng. Tuy nhiên, người đọc được giả thiết rằng có những kiến thức nhất định về kinh tế, kinh doanh, kế toán và có thiện chí, nỗ lực để đọc BCTC. Thích hợp. Để hữu ích, thông tin trên BCTC phải thích hợp với nhu cầu đưa ra quyết định của người đọc.
Thông tin được gọi là thích hợp khi nó có thể giúp người đọc đánh giá quá khứ, hiện tại hoặc tương lai; cũng như khẳng định hay điều chỉnh những đánh giá trước đây của họ. Tính thích hợp bao gồm tính dự đoán và tính xác nhận, hai đặc tính này quan hệ với nhau. Đáng tin cậy. Thông tin chỉ hữu ích khi chúng đáng tin cậy.
Thông tin được gọi là đáng tin cậy nếu chúng không bị sai sót hay thiên lệch một cách trọng yếu. Thông tin đáng tin cậy đòi hỏi những yêu cầu sau: - Phản ánh trung thực. Thông tin phải phản ảnh một cách trung thực về các nghiệp vụ hay sự kiện mà nó dự định trình bày. - Nội dung quan trọng hơn hình thức.
Để phản ảnh trung thực các nghiệp vụ và sự kiện, phải trình bày chúng đúng với bản chất chứ không chỉ căn cứ vào hình thức pháp lý. - Khách quan. Để có thể tin cậy được, các thông tin cần khách quan, nghĩa là không thiên lệch. Thận trọng bao gồm sự cẩn thận trong việc thực hiện các xét đoán trong những tình huống chưa rõ ràng; sao cho tài sản và thu nhập không bị thổi phồng, nợ phải trả và chi phí không bị khai thiếu.
Thông tin đáng tin cậy khi nó được trình bày đầy đủ trên báo cáo tài chính, trong sự cân đối giữa tính trọng yếu và chi phí. Có thể so sánh được. Thông tin cần được trình bày trên báo cáo tài chính sao cho người đọc có thể so sánh chúng với báo cáo tài chính của các doanh nghiệp khác, HV: VÕ THU PHỤNG 3 LUẬN VĂN CAO HỌC HDKH: PGS.TS BÙI VĂN DƯƠNG hoặc với chính doanh nghiệp đó của các kỳ trước. Để đạt được yêu cầu này, việc đánh giá và trình bày thông tin cần phải nhất quán trong toàn bộ doanh nghiệp, qua các kỳ các khác nhau và nhất quán với các doanh nghiệp khác.
Việc thuyết minh là cần thiết để đảm bảo tính so sánh được. Tuy nhiên, nhất quán không có nghĩa là doanh nghiệp không thay đổi chính sách kế toán khi cần thiết hoặc theo yêu cầu của chuẩn mực. Bốn tiêu chuẩn chất lượng trên cần được thực hiện đồng thời trong quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính để mang lại sự trung thực và hợp lý cho báo cáo tài chính(1).3 Các yếu tố của BCTC và ghi nhận các yếu tố của BCTC: Các yếu tố trong Bảng cân đối kế toán : Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. Những yếu tố này được định nghĩa như sau: a/ Tài sản: Là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.
b/ Nợ phải trả: Là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình. c/ Vốn chủ sở hữu: Là giá trị vốn của doanh nghiệp, được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị Tài sản của doanh nghiệp trừ (-) Nợ phải trả. Các yếu tố của Báo cáo hoạt động kinh doanh: Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là Doanh thu, thu nhập khác và Chi phí.
Các yếu tố Doanh thu, thu nhập khác và Chi phí được định nghĩa như sau: a/ Doanh thu và thu nhập khác: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông (1)Trích từ bài viết “Chuẩn mực chung – Khuôn mẫu lý thuyết của kế toán tài chính” của TS. HV: VÕ THU PHỤNG 4 LUẬN VĂN CAO HỌC HDKH: PGS.TS BÙI VĂN DƯƠNG thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu. b/ Chi phí: Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu. Doanh thu, thu nhập khác và chi phí được trình bày trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để cung cấp thông tin cho việc đánh giá năng lực của doanh nghiệp trong việc tạo ra các nguồn tiền và các khoản tương đương tiền trong tương lai.
Ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính Báo cáo tài chính phải ghi nhận các yếu tố về tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp; trong các yếu tố đó phải được ghi nhận theo từng khoản mục. Một khoản mục được ghi nhận trong báo cáo tài chính khi thoả mãn cả hai tiêu chuẩn: a/ Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế hoặc làm giảm lợi ích kinh tế trong tương lai; b/ Khoản mục đó có giá trị và xác định được giá trị một cách đáng tin cậy. Quy định này được áp dụng đối với từng yếu tố cụ thể như sau: Tài sản được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi doanh nghiệp có khả năng chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và giá trị của tài sản đó được xác định một cách đáng tin cậy. Tài sản không được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi các chi phí bỏ ra không chắc chắn sẽ mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp thì các chi phí đó được ghi nhận ngay vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi phát sinh.
Nợ phải trả được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi có đủ điều kiện chắc chắn là doanh nghiệp sẽ phải dùng một lượng tiền chi ra để trang trải cho những nghĩa HV: VÕ THU PHỤNG 5 LUẬN VĂN CAO HỌC HDKH: PGS.TS BÙI VĂN DƯƠNG vụ hiện tại mà doanh nghiệp phải thanh toán, và khoản nợ phải trả đó phải xác định được một cách đáng tin cậy. Doanh thu và thu nhập khác được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi thu được lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan tới sự gia tăng về tài sản hoặc giảm bớt nợ phải trả và giá trị gia tăng đó phải xác định được một cách đáng tin cậy. Chi phí sản xuất, kinh doanh và chi phí khác được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi các khoản chi phí này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chi phí này phải xác định được một cách đáng tin cậy. Các chi phí được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí.
Khi lợi ích kinh tế dự kiến thu được trong nhiều kỳ kế toán có liên quan đến doanh thu và thu nhập khác được xác định một cách gián tiếp thì các chi phí liên quan được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở phân bổ theo hệ thống hoặc theo tỷ lệ. Một khoản chi phí được ghi nhận ngay vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ khi chi phí đó không đem lại lợi ích kinh tế trong các kỳ sau.4 Mục đích và tác dụng của BCTC: 1.1 Mục đích: Báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp. Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Để đạt mục đích này báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về: Tài sản; Nợ phải trả; Vốn chủ sở hữu; Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ; phân chia lợi nhuận sau thuế; Các luồng tiền.
HV: VÕ THU PHỤNG 6 LUẬN VĂN CAO HỌC HDKH: PGS.