Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Phần này giới thiệu tổng quan về nghiên cứu, tập trung trả lời các câu hỏi có liên quan đến lý do nghiên cứu được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như những đóng góp từ nghiên cứu này. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày tóm tắt cơ sở lý thuyết có liên quan đến nghiên cứu. Chương này tập trung lược khảo các lý thuyết nền tảng, nguồn gốc xây dựng nên mô hình, các nghiên cứu trước về vấn đề này cũng được trình bày trong chương này.
5 Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày về phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Cách thức chọn mẫu nghiên cứu, cách thức xây dựng các biến trong mô hình và các phương pháp cũng như các phần mềm kinh tế lượng sử dụng trong nghiên cứu này sẽ được trình bày một cách chi tiết. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương này tập trrung vào việc phân tích kết quả và bàn luận về kết quả của nghiên cứu. Chương 5: Kết luận Chương này là chương cuối cùng của nghiên cứu.
Các kết quả nghiên cứu chính sẽ được tóm tắt lại và những đóng góp quan trọng rút ra từ kết quả nghiên cứu hướng đến các đối tượng khác nhau sẽ được liệt kê. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÔNG TIN TÀI CHÍNH, MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Trong chương này, các lý thuyết giải thích và nghiên cứu tính minh bạch TTTC sẽ được khảo sát. Bên cạnh đó, chương này cũng tóm tắt các nghiên cứu trước về tính minh bạch TTTC. Bố cục trong chương này được trình bày theo ba phần: - Định nghĩa về tính minh bạch TTTC.
- Lý thuyết nền liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC. - Tổng quan các nghiên cứu trước về tính minh bạch TTTC. Một số vấn đề chung về TTTC và tầm quan trọng của minh bạch TTTC 2. Khái niệm TTTC Ngày nay, hệ thống công nghệ thông tin và tính hữu ích của chúng trong công tác tài chính dần trở thành công cụ quan trọng rất cần thiết cho việc xử lý và phân tích thông tin, góp phần thúc đẩy TTTC và TTCK ngày càng phát triển.
Có thể nói rằng, các tác động tài chính của các sự kiện tài chính được xử lý thông qua TTTC, qua đó nhằm đem đến thông tin hữu ích cho người sử dụng để ra quyết định kinh tế một cách chính xác. Đối với hệ thống thông tin kế toán thì BCTC là kết quả đầu ra của thông tin kế toán. Ở góc độ người sử dụng thông tin kế toán thì BCTC là nguồn cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định kinh tế. Trong nghiên cứu này, nghiên cứu sử dụng thuật ngữ TTTC có nghĩa tương đồng với “thông tin trên BCTC”.
7 Như vậy, TTTC là những thông tin liên quan đến tình hình hoạt động tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền của một doanh nghiệp (DN) ở những thời kỳ xác định tại những thời điểm nhất định. TTTC là thông tin mang tính chất trong quá khứ hoặc thông tin mang tính dự báo, thường được biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ trên BCTC của công ty (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2015). Khái niệm minh bạch TTTC Có nhiều khái niệm khác nhau về minh bạch TTTC trong nhiều lĩnh vực khác nhau từ các nhà nghiên cứu. Thuật ngữ sự minh bạch được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau, nó có thể đề cập đến sự minh bạch thông tin hoặc là sự minh bạch TTTC.
Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập đến sự minh bạch của thông tin được trình bày trong BCTC hoặc sự minh bạch TTTC được công bố. Theo nghĩa đen thông thường, sự minh bạch (dịch sang tiếng Anh là Transparent) được hiểu là sự nhìn thấu, hoặc là sự xuyên qua một hiện tượng từ bên này sang bên kia. Với Trans là sự di chuyển, Parent là nhìn thấy được Các nghiên cứu trước đây đã định nghĩa về sự minh bạch TTTC như: Trên góc độ thực hành Khái niệm minh bạch TTTC xét riêng cho lĩnh vực ngân hàng:" Minh bạch thông tin trong lĩnh vực ngân hàng là thông tin được công bố một cách kịp thời, chính xác, tin cậy qua đó kết quả và tình hình tài chính của ngân hàng được người sử dụng thông tin đánh giá chính xác " (Basle, 1998, p. Sự minh bạch thông tin là việc thông tin được cung cấp một cách kịp thời, đầy đủ từ phía cơ quan có thẩm quyền về thể chế kinh tế, phù hợp với các quy định của pháp luật đề ra (OECD, 2004).
Sự công bố phù hợp và kịp thời các kết quả, thành quả về hoạt động tài chính của doanh nghiệp (DN) và các điều lệ về cấu trúc sở hữu, Ban giám đốc (BGĐ), cấu trúc cũng như quá trình quản lý được hiểu là sự minh bạch (Standard and Poor’s, 2002). 8 Trên góc độ nghiên cứu Theo tác giả Tara Vishwanath & Daniel Kaufmann (1999), việc hiểu biết về tính minh bạch nên bao gồm các thuộc tính như sau: Tiếp cận, tính toàn diện, tính liên quan, chất lượng và sự đáng tin cậy; cụ thể như sau: (1) Sự tiếp cận: Dựa vào các nguyên tắc và quy định đảm bảo rằng thông tin sẵn có để những người quan tâm có thể được tiếp cận dễ dàng, điều này được thực hiện phần lớn nhờ vào các phương tiện và tổ chức tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận nguồn thông tin đó. Các phương tiện truyền thông được kể đến như: Truyền thông trên phát thanh, báo chí, Internet. (2) Tính liên quan: Thông tin phải đảm bảo tính liên quan, được hiểu là đáp ứng đúng nhu cầu thông tin của người sử dụng.
Chắc chắn đây là một việc hết sức khó khăn vì: Thứ nhất, sự phát triển của Internet khiến thông tin tràn ngập, chính vì sự quá tải thông tin sẽ làm loãng tính liên quan của thông tin. Thứ hai, thông tin mang tính chủ quan, nhà đầu tư cần thông tin của khoản nợ và rủi ro, người gửi tiền quan tâm thông tin để đảm bảo tiền gửi của họ được an toàn và công chúng cần biết về tình hình kinh tế hiện tại, chính sách tiền tệ. Trong lĩnh vực chứng khoán, tính minh bạch thông tin liên quan đến các đối tượng là doanh nghiệp niêm yết trên TTCK, người xử lý thông tin: Các cơ quan quản lý như Sở Giao dịch Chứng Khoán, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán ., người sử dụng thông tin: Các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, các cá nhân, tổ chức, các cơ quan truyền thông, những người muốn tham gia vào TTCK. (3) Chất lượng và tính tin cậy của thông tin: Thông tin được đảm bảo có chất lượng và đáng tin cậy, kịp thời, đầy đủ, nhất quán và được trình bày trong những thuật ngữ đơn giản và rõ ràng.
Những chuẩn mực đối với chất lượng thông tin phải được đảm bảo, có thể thẩm tra bởi các tổ chức trung gian, công ty kiểm toán bên ngoài. 9 Nghiên cứu sự minh bạch ở mức độ doanh nghiệp, minh bạch TTTC được định nghĩa là sự sẵn có của các thông tin cụ thể về công ty đối với bên ngoài của công ty niêm yết là các cổ đông và nhà đầu tư (Robert Bushman và các tác giả, 2003). Các thông tin được Robert Bushman và các tác giả chia thành 3 nhóm: (1) Các quy định trong BCTC. (2) Mức độ đáp ứng của các thông tin bí mật của doanh nghiệp.
(3) Mức độ phổ biến của các thông tin thông qua phương tiện truyền thông. Theo nghiên cứu của các tác giả Blanchet (2002), Prickett (2002) và Kulzick (2004), sự minh bạch TTTC phải đảm bảo các đặc điểm sau: (1) Sự chính xác: Thông tin cung cấp phải đáp ứng điều kiện về dữ liệu được đảm bảo một cách chính xác từ những sự kiện đã phát sinh. (2) Sự nhất quán: Thông tin được trình bày có thể so sánh và là kết quả của những phương pháp kế toán được áp dụng thống nhất với nhau. (3) Sự thích hợp: Khả năng thông tin tạo ra các quyết định riêng biệt, giúp người sử dụng có thể tiên đoán các kết quả đã xảy ra trong quá khứ, hiện tại và tương lai hoặc giúp xác nhận và hiệu chỉnh các mong đợi nhằm đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp với nhu cầu của người sử dụng.
(4) Sự đầy đủ: Thông tin được phản ánh một cách đầy đủ các nội dung sự kiện đã phát sinh và các đối tượng có liên quan. (5) Sự rõ ràng: Thông tin được truyền đạt dễ hiểu đồng thời phải đạt được thông điệp. (6) Sự kịp thời: Thông tin có sẵn cho người sử dụng trước khi thông tin giảm khả năng ảnh hưởng đến các quyết định. (7) Sự thuận tiện: Thông tin được thu thập và được tổng hợp một cách dễ dàng.
10 Theo Nguyễn Thị Hà (2016), phân tích nguyên tắc “Công khai và minh bạch” theo nguyên tắc của OECD và quá trình vận dụng trong điều kiện của các DN tại Việt Nam, bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán (Số 11/40, 18 - 21). Theo Nguyễn Thị Liên Hoa (2007), tác giả đánh giá tính hiệu quả thông tin của TTCK Việt Nam thông qua việc áp dụng lý thuyết thị trường hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đề xuất giải pháp giảm bớt bất cân xứng TTTC trên TTCK Việt Nam thông qua việc xây dựng một hệ thống CBTT số hóa. Theo Nguyễn Đình Hùng (2010), nghiên cứu của tác giả đã xác định 6 thành phần của hệ thống kiểm soát sự minh bạch TTTC: Chuẩn mực kế toán, quy định về công bố BCTC, kiểm soát nội bộ, BGĐ, ban kiểm soát, kiểm toán độc lập.
Theo Nguyễn Văn Dần (2012), nghiên cứu đã kiểm tra nhận thức của nhà đầu tư trên SGDCK thành phố Hồ Chí Minh về các thành phần biến số minh bạch TTTC, nhân khẩu nhà đầu tư và kinh nghiệm nhà đầu tư nhằm khám phá mối quan hệ giữa tính minh bạch của TTTC và hành vi nhà đầu tư. Tổng hợp từ các nghiên cứu trên, theo tác giả, thuật ngữ minh bạch TTTC phản ánh tính rõ ràng, chính xác, kịp thời, đảm bảo độ tin cậy về các hoạt động của thị trường và tất nhiên để thể hiện được sự rõ ràng đó, nhất thiết mọi hoạt động liên quan đến thị trường phải được công khai một cách minh bạch. Đo lường mức độ minh bạch TTTC Có nhiều cách thức khác nhau để đo lường tính minh bạch thông tin nói chung và TTTC nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay chưa bộ tiêu chí chính thức nào nhằm đánh giá mức độ minh mạch thông tin trên BCTC, BCTN của các CTNY trên TTCK.