CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Ở chương này, tác giả sẽ trình bày một số các nghiên cứu được thực hiện trong và ngoài nước có liên quan đến việc lựa chọn CSKT của các DN, cụ thể như sau: 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài Bosnyák (2003) với nghiên cứu Számviteli értékelési eljárások hatása a vállalkozásokvagyoni, jövedelmi és pénzügyi helyzetére [The effect of evaluationmethods on the financial position, performance and cash flows of entites],Doctoral thesis, Budapest Corvinus University, Hungary.Tác giả này đã nghiên cứu ở Hungary việc lựa chọn CSKT của các DN vừa và nhỏ chịu tác động bởi những nhân tố nào. Phát hiện của tác giả đã xác nhận tác động thực tế của thuế đối với kế toán, vì yếu tố mạnh nhất là “chi phí thuế”, giải thích 26,17% sự quyết định lựa chọn CSKT, ngoài ra còn các nhân tố khác tác động đến quyết định lựa chọn CSKT như hình ảnh của DN, nhu cầu thông tin kế toán, tính nghề nghiệp, cách ghi nhận các nghiệp vụ kế toán được trình bày trong bảng 1 dưới đây: Bảng 1.1: Các yếu tố lựa chọn chính sách của các DNNVV ở Hungary Hệ số Tên % Giải thích phương sai 1 Chi phí thuế 26.174 2 Hình ảnh của DN 14.468 3 Nhu cầu thông tin kế toán 9.583 4 Tính nghề nghiệp 6.706 5 Cách ghi nhận nghiệp vụ kế toán 6.078 (Nguồn: Tác giả tổng hợp) Christos Tzovas (2006) với nghiên cứu “Factors influencing a firm's accounting policy decisions when tax accounting and financial accounting coincide”, Managerial Auditing Journal, Vol. Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định 6 CSKT của các DN tại Hy Lạp. Đồng thời nhấn mạnh nhận thức của nhà quản lý trong việc lựa chọn CSKT, ảnh hưởng đến số liệu kế toán cung cấp, qua đó ảnh hưởng đến việc ra quyết định và ý kiến của các bên liên quan.
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã tiến hành khảo sát các nhà quản lý tài chính của 200 công ty ở Hy Lạp. Kết quả của nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng bởi nhận thức và quyết định của các bên liên quan, theo đuổi các mục tiêu liên quan đến lợi nhuận, mục tiêu giảm thiểu trách nhiệm pháp lý của công ty là các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT ở các công ty này. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm liên quan đến việc lựa chọn CSKT của các DN hoạt động tại Hy Lạp và ở các nước có môi trường tương tự như của Hy Lạp (do môi trường kế toán ở Hy Lạp tương tự như ở nhiều nước châu Âu nên nghiên cứu này có thể cung cấp một cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DN hoạt động ở các nước này). Ngoài ra, những phát hiện của nghiên cứu này có thể tạo thuận lợi cho các chuyên gia thực hiện phân tích tài chính quốc tế.
Szilveszter Fekete (2010) với nghiên cứu “Explaining Accounting Policy Choices of SME’s: An Empirical Research on the Evaluation Methods”. Tạm dịch: Giải thích lựa chọn các CSKT của SME: Một nghiên cứu thực nghiệm về các phương pháp đánh giá. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 5 nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT ở các DN bao gồm: thuế, nhu cầu thông tin của người dùng, hình ảnh của DN, chủ sở hữu, hình ảnh của DN với bên thứ ba, các nguyên tắc cơ bản về kế toán. Dữ liệu cho nghiên cứu được thu thập thông qua một cuộc khảo sát trong đó người trả lời được yêu cầu cho biết mức độ mà mỗi yếu tố được liệt kê trong bảng câu hỏi ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT của họ.
Sau khi kiểm soát kích thước mẫu, tác giả áp dụng kỹ thuật phân tích thành phần chính trong việc xác định tác động của các yếu tố. Qua nghiên cứu tác giả khẳng định thuế vẫn là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến lựa chọn CSKT của DN, tuy nhiên nhận thức của DN trong tính đúng đắn và công bằng khi thực hiện nghĩa vụ về thuế vẫn còn hạn chế. Okpala, Kenneth Enoch (2016) với nghiên cứu “Factors influencing accounting policy choices under IFRS in Airline-GSA companies”. Ilorin Journal of Accounting (IJA).
Tạm dịch: Các yếu tố ảnh hưởng đến các lựa chọn CSKT theo IFRS trong các công 7 ty hàng không-GSA. Mục tiêu của nghiên cứu này là để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn các CSKT trong các công ty Đại lý bán hàng hàng không (GSA) với mẫu khảo sát gồm 101 nhân viên. Dữ liệu được thu thập bằng phiếu khảo sát gửi đến các đối tượng, tiếp đó phân tích bằng phương pháp phân tích tương quan và ANOVA một chiều. Kết quả đã kết luận rằng quy mô của DN không có mối quan hệ đáng kể với lựa chọn CSKT.
Động cơ thu nhập; và mục tiêu trách nhiệm thuế của công ty có mối quan hệ đáng kể với lựa chọn CSKT. Từ kết quả đã nghiên cứu, tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị như: CSKT được các công ty GSA áp dụng và áp dụng phải được công bố một cách rõ ràng; bất kể động cơ đằng sau việc lựa chọn CSKT là gì thì quản lý GSA cần lưu ý đến quan điểm đúng đắn và công bằng của thông tin trình bày trên BCTC. Các mục tiêu quản lý và trách nhiệm thuế cần phải được xem xét trong việc lựa chọn CSKT.2 Các nghiên cứu trong nước Hoàng Tâm Vân Anh (2016) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DNSX phần mềm trên địa bàn TP. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP.
Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả sử dụng PPNC hỗn hợp, trong đó có sự kết hợp giữa PPNC định tính và nghiên cứu định lượng, chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phi xác suất. Nghiên cứu này trước hết góp phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về lựa chọn CSKT của các DN, đồng thời hệ thống các nghiên cứu thuộc trong và ngoài nước trước đây có liên quan đến việc lựa chọn CSKT. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DNSX phần mềm trên địa bàn TP.HCM và đưa ra các đề xuất kiến nghị đối với DN và cơ quan quản lý nhà nước về vấn đề lựa chọn CSKT nhằm nâng cao chất lượng BCTC. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự lựa chọn CSK chịu sự tác động của các nhân tố như nhu cầu thông tin ( =0.388), hình ảnh DN ( =0.344), ghi nhận kế toán ( =0.473); đặc điểm DN phần mềm ( =0.
Bùi Thị Thu Lan (2016) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP. Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu như: Xác định các nhân tố, đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến việc 8 lựa chọn CSKT của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu; từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp các DN nâng cao hiệu quả trong việc lựa chọn CSKT. Cụ thể kết quả nghiên cứu việc lựa chọn CSKT của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu chịu ảnh hưởng bởi kế hoạch tiền thưởng cho nhà quản lý ( =0.276 ), mức vay nợ ( =0.276 ), khả năng vi phạm hợp đồng vay nợ ( = 0.230 ), nhu cầu thông tin của người sử dụng thông tin ( = 0.151), trình độ nhân viên kế toán ( =0.439), và quy mô của DN không ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT.
Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho mức độ phù hợp của mô hình là 58.3 % sự thay đổi củaviệc lựa chọn CSKT của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu là do các nhân tố khác quy định chưa được nghiên cứu trong đề tài này, do đó các nghiên cứu sau này có thể mở rộng mô hình nghiên cứu cho phù hợp hơn. Nguyễn Thị Ngọc Lan (2016) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế tóan - bằng chứng thực nghiệm tại các DN trên địa bàn TP. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP.Trước hết, dựa trên tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây liên quan đến sự lựa chọn CSKT của các DN, cũng như cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài này, tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN. Tiếp đó thông qua PPNC định tính và định lượng, tác giả giải quyết những mục tiêu nghiên cứu như xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến sự lựa chọn CSKT của các DN.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả lựa chọn CSKT đối với các DN trên địa bàn TP. Kết quả nghiên cứu được thể hiện theo mô hình dưới đây: 9 Người làm kế toán (= 0.349) Sự lựa chọn chính sách kế Đặc trưng (= 0.361) tóan - bằng chứng thực nghiệm tại các DN trên địa bàn Nguyên tắc (= 0. Đà Lạt Thông tin (= 0.1: Tóm tắt kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Lan (2016) (Nguồn: Tác giả tổng hợp) Kết quả nghiên cứu cho thấy sự lựa chọn CSKT của các DN chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: người làm kế toán, mục tiêu, đặc trưng, nguyên tắc, thông tin, nhu cầu. Trong đó nhân tố người làm kế toán ảnh hưởng mạnh nhất và nhân tố nhu cầu ảnh hưởng yếu nhất đến sự lựa chọn chính sách kế tóan - bằng chứng thực nghiệm tại các DN trên địa bàn TP.
Lê Thị Mai Chi (2017) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của DN nhỏ và vừa – nghiên cứu đối với DNSX ngành dệt may trên địa bàn TP. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP. Nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời những câu hỏi như: những nhân tố nào tác động đến việc lựa chọn CSKT của DN nhỏ và vừa ngành dệt may trên địa bàn TP.HCM, mức độ tác động của chúng như thế nào.Nghiên cứu này cũng áp dụng PPNC hỗn hợp, như phân tích nhân 10 tố, phân tích hồi quy đa biến. Kết quả nghiên cứu xác định các nhân tố như thuế, tính trung thực hợp lý BCTC, đáp ứng yêu cầu các đối tượng bên trong, sự tin cậy của các đối tượng bên ngoài DN có ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của DN nhỏ và vừa ngành dệt may trên địa bàn TP.
Bên cạnh đó tác giả cũng đề xuất một số gợi ý về lựa chọn CSKT cho các DN.