PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do thực hiện đề tài Ngành xây dựng là ngành có mức tăng trưởng bền vững hàng năm và đóng góp tỷ trọng lớn và cơ cấu tăng trưởng GDP của cả nước. Theo tổng cục thống kê, trong năm 2016 ngành xây dựng có mức tăng trưởng khá với mức tăng 10.6 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng kinh tế của cả nước. Với vị thế của một ngành luôn tăng trưởng trong những năm gần đây và có tốc độ tăng trưởng đứng thứ 3 trong khu vực châu Á năm 2015 (theo thống kê của ngành xây dựng Việt Nam, năm 2016) và vẫn tiếp tục đà tăng trưởng trong năm 2016, Ngành Xây dựng Việt Nam có triển vọng phát triển rất lớn trong các năm tới.
Cụ thể, ngành xây dựng đang có rất nhiều thuận lợi: Thứ nhất, số lượng nhà thầu xây dựng của Việt Nam hiện nay là rất lớn. Theo số liệu ước tính của Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI), hiện Việt Nam có khoảng 150.000 nhà thầu xây dựng, trong đó có khoảng 2.000 nhà thầu cỡ lớn và vừa. Tính trung bình cứ 2.2km2 có một nhà thầu xây dựng này chứng tỏ thị trường xây dựng tại Việt Nam đang diễn ra sôi động và có nhiều dự án đang triển khai. Thứ hai, nguồn lực phục vụ ngành dồi dào.
Hiện nay, nguồn lực con người ngành xây dựng hiện Việt Nam có khoảng 9.000 kỹ sư/triệu dân, gấp 3 lần so với mức bình quân của thế giới là 3.000 kỹ sư/triệu dân. Các kỹ sư xây dựng Việt Nam được đào tạo khá bài bản và có trình độ cao, đáp ứng được yêu cầu cao của thị trường hiện nay. Ngoài ra nhiều công ty còn cử các kỹ sư đi học tập tại nước ngoài và học hỏi kinh nghiệm từ phía đối tác nước ngoài, sau đó tiếp thu trình độ công nghệ và kỹ năng từ phía đối tác áp dụng vào thực tiễn tại Việt Nam. Do đó các công trình ngày càng có 2 chất lượng cao hơn, thời gian thi công ngắn hơn.
Bên cạnh đó, Việt Nam còn có đội ngũ công nhân dồi dào, có tay nghề cao, có trình độ làm việc khá tốt, chịu được áp lực công việc cao, nên có thể đảm bảo được tiến độ các công trình. Thứ ba, nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào ngành xây dựng Việt Nam lớn. Mỗi năm có từ 40-50% nguồn vốn FDI đổ vào Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng ước đạt 4- 5 tỷ USD/năm, chưa kể đến các công ty trong nước cũng đầu tư xây dựng và khai thác lĩnh vực này, làm cho ngành xây dựng ngày càng phát triển. Mỗi năm ngành xây dựng đều tăng trưởng trên 10%, dự kiến đến năm 2021 quy mô thị trường xây dựng Việt Nam sẽ đạt 14 tỷ USD (theo nghiên cứu của công ty tài chính quốc tế IFC, năm 2015).
Thứ tư, nhà nước tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, quản l trong đầu tư xây dựng và xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Nhà nước còn công bố định hướng, kế hoạch phát triển ngành xây dựng trong những năm tiếp theo để giúp các doanh nghiệp có định hướng cho sự phát triển của mình. Bên cạnh cơ hội phát triển, sức cạnh tranh của ngành này cũng khốc liệt không kém, yêu cầu các nhà quản lý phải có thông tin nhanh chóng, kịp thời và chính xác để hoạch định kế hoạch tài chính và chiến lược kinh doanh cho phù hợp. Để ngành xây dựng có thể tận dụng hiệu quả những cơ hội sẽ đến trong những năm tới, các doanh nghiệp cần học hỏi và phát triển, sử dụng công cụ quản trị hiện đại để tăng sức cạnh tranh.
Các nhà quản lý cần có công cụ trợ giúp để làm căn cứ phân tích, đánh giá được một cách chính xác nhất tình hình tài chính, cơ hội và cả rủi ro trong tương lai. Trong đó, KTQT chính là công cụ cung cấp những thông từ cần thiết từ tất cả các khâu: Lập kế hoạch, dự toán, thực hiện, kiểm tra và đánh giá. Khác với kế toán tài chính là thông tin quá khứ, KTQT kế thừa những dữ liệu từ kế toán tài chính nhằm phân tích thông tin hiện tại và ước tính tương lai, từ đó cung cấp thông tin cho quá trình lên chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp. 3 Hiện nay, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng, đặc biệt các DNNVV vẫn còn khá lúng túng trong việc áp dụng KTQT và vận dụng KTQT vào trong phân tích hoạch định cho tương lai.
Các doanh nghiệp cũng khá quan tâm đến KTQT nhưng chỉ dừng lại ở giai đoạn lập kế hoạch và kiểm soát chi phí là chủ yếu, thông qua các kỹ thuật áp dụng đa phần là kỹ thuật truyền thống nên chưa khai thác hết lợi ích và giá trị tăng thêm mà KTQT mang lại (Nguyễn Ngọc Vũ, 2017). Bên cạnh đó, còn khá ít những nghiên cứu dành riêng cho ngành đặc thù như ngành xây dựng để các doanh nghiệp có thể tham khảo nhằm phát triển hệ thống KTQT phù hợp với quy trình quản lý. Xuất phát từ những phân tích trên, đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp xây dựng ở Thành Phố Hồ Chí Minh” được tác giả thực hiện nhằm tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT tại các doanh nghiệp này. Kết quả nghiên cứu không chỉ có nghĩa về mặt lý luận mà còn giúp các doanh nghiệp thấy rõ được vai trò của KTQT, các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong DNXD.
Từ đó, đưa ra các giải pháp khắc phục, cải tiến và khuyến khích các doanh nghiệp vận dụng KTQT vào trong quản trị nhằm nâng cao sức cạnh tranh và bắt kịp với tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng trong những năm tới. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu Đề tài được thực hiện nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các DNXD tại Tp. Từ việc nhận diện nhân tố ảnh hưởng, tác giả tiến hành đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến việc vận dụng KTQT. Để đạt được mục tiêu trên, tác giả đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu sau: - Q1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến định áp dụng KTQT tại các DNXD tại Tp.
HCM? 4 - Q2: Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến định áp dụng KTQT tại các DNXD tại Tp. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn: đối tượng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT thông qua đối tượng khảo sát là các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng ở Tp. HCM đã, đang hoặc sẽ có ý định vận dụng KTQT. Qua đối tượng nghiên cứu này, luận văn sẽ nhận diện các nhân tố nào tác động đến việc vận dụng KTQT ở các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng tại Tp.
HCM và mức độ tác động của từng nhân tố. Không gian nghiên cứu: đề tài nghiên cứu được tiến hành tại một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng tại Tp. Để thuận tiện cho công tác thu thập thông tin, dữ liệu trình bày trong luận văn, tác giả sẽ căn cứ vào thông tin, dữ liệu được tổng hợp từ bảng khảo sát. Thời gian nghiên cứu: Quý III, Qu IV năm 2017 và Qu I năm 2018.
Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài được thực hiện theo phương pháp hỗn hợp, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính. Cụ thể, tác giả xác định vấn đề nghiên cứu, tìm ra vấn đề nghiên cứu, từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu cho đề tài. Tiếp theo, dựa trên các nghiên cứu trước đây, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu và tiến hành kiểm định mô hình. Sử dụng các công cụ khảo sát để tập hợp dữ liệu bằng cách chọn mẫu và gửi bảng khảo sát đến các đối tượng có liên quan đến việc vận dụng KTQT ở các DNXD tại Tp.
Sau đó, sử dụng phần mềm SPSS để kiểm định dữ liệu, kiểm tra độ tin cậy của các thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến định áp dụng KTQT và mức độ tác động của chúng. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Kết quả nghiên cứu đóng góp bằng chứng thực nghiệm từ những đối tượng liên quan về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các DNXD tại Tp. - Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số kiến nghị góp phần gia tăng tính khả thi của việc vận dụng KTQT trong các DNXD tại Tp. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Chương này, tác giả sẽ tiến hành tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan mật thiết đến đề tài, cung cấp cái nhìn tổng quan về công tác nghiên cứu KTQT trên thế giới, các kết quả đạt được và chưa đạt được.
Qua đó cũng góp phần minh chứng cho tính cấp thiết của đề tài cũng như tiến hành xác định khe hổng nghiên cứu cho đề tài nghiên cứu của mình.1 Các nghiên cứu công bố ở nƣớc ngoài Chủ đề nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong một tổ chức có vị trí quan trọng trong thảo luận của nhiều nhà nghiên cứu và chuyên gia quản lý. Các nghiên cứu chỉ ra rằng sự vận dụng KTQT không chỉ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên trong DN mà cả các yếu tố bên ngoài DN. Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu lại đề cập đến nhiều nhân tố khác nhau, mỗi nhân tố lại có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến việc vận dụng KTQT. Nghiên cứu của Magdy Abdel-Kader & Robert Luther (2008) “The impact of firm characteristics on management accounting practices: A UK-based empirical analysis”, nghiên cứu này xem xét tác động của một loạt các biến ngẫu nhiên tìm ẩn đối với việc vận dụng KTQT trong một mẫu các công ty thuộc ngành công nghiệp lớn nhất Vương Quốc Anh.
Các biến số liên quan đến đặc điểm bên ngoài, đặc điểm tổ chức, và đặc điểm sản xuất hoặc chế biến. Nghiên cứu bao gồm 10 biến số mà 2 trong số đó chưa được khám phá trước đây là quyền lực của khách hàng và tính mau hỏng của sản phẩm.