CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan những nghiên cứu trước đây: 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới : Trên thế giới, các nghiên cứu có liên quan đến các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT đã xuất hiện từ rất sớm đóng góp trong quá trình hình thành sơ khai một nhánh trong kinh tế học thực chứng (Positive Economic Theory) là Lý thuyết kế toán thực chứng. Hai giáo sư người Mỹ, Ross Watts và Jerold Zimmerman qua hàng loạt các công trình nghiên cứu của mình (1978, 1979, 1980, 1990). Trong cuốn “Positive Accounting Theory” được xuất bản vào năm 1986, cho rằng thị trường là hiệu quả mà những người tham gia thị trường sẽ nhìn thấy thông qua các thiết bị làm mịn có thể quan sát như lựa chọn CSKT. Bài báo “Positive accounting theory: A ten year perspective” đưa ra ba giả thuyết có ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn CSKT là: giả thuyết về thù lao cho nhà quản lý (bonus plan hypothesis), giả thuyết về hợp đồng nợ (debt covenant hypothesis) và giả thuyết về chi phí chính trị (political cost hypothesis).
Nghiên cứu đã tập trung vào các lý thuyết kế toán bao gồm lý thuyết kế toán thực chứng, lý thuyết đại diện, lý thuyết ký kết hợp đồng. để làm cơ sở giải thích ba (03) giả thuyết được đưa ra: nhân tố mức tiền thưởng của nhà quản lý có tác động cùng chiều đến CSKT điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp, nhân tố nợ trên vốn chủ sở hữu có tác động cùng chiều đến CSKT điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp và nhân tố chi phí chính trị có tác động cùng chiều (+) đến CSKT điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy nhân tố nợ và nhân tố chi phí chính trị có mối tương quan đến việc lựa chọn CSKT tại doanh nghiệp. Đồng quan điểm với Watts và Zimmerman (1986, 1990), nhà nghiên cứu Inoue Tatsuo và Wayne B.
Thomas (1996) đã cho rằng chi phí chính trị có ảnh hưởng đáng kể. Nhưng trong một nghiên cứu tại Australia của Aitken Michael J. Loftus (2009) đã bác bỏ các giả thuyết chi phí chính trị và nợ của Watts và Zimmerman (1986, 1990) khi chỉ tìm ra được phương án bồi thường là có ảnh hưởng đáng kể. Trần Kim Ngân - 2083403011004 MACC020 Trang 9/142 Tuy nhiên nhân tố kế hoạch thưởng có tác động chặt chẽ đến sự lựa chọn chính sách kế toán làm tăng lợi nhuận trong một công bố mang tên “Some economic determinants of accounting policy” (Hagerman, Robert L.
Đồng thời nghiên cứu này đã đưa ra thêm nhân tố rủi ro và tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT làm tăng lợi nhuận, nhân tố độ lớn doanh nghiệp, mức độ sử dụng vốn ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT làm giảm lợi nhuận. Nghiên cứu này trả lời cho câu hỏi tại sao những người quản lý của các tập đoàn lại quan tâm đến những chuẩn mực kế toán nào được sử dụng trong việc lập BCTC? Các công ty sẽ phản ứng như thế nào với những thay đổi trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn trừ khi hiểu được động cơ của ban lãnh đạo. Loại thông tin này rất quan trọng vì các lý thuyết chuẩn mực có thể sử dụng được về kế toán phải dựa trên sự hiểu biết về các bên khác nhau trong quá trình thiết lập chuẩn mực. Kế tiếp, nghiên cứu của Cushing, Barry E.
LeClere (1992) cung cấp thêm các bằng chứng về các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT hàng tồn kho. Nghiên cứu này so sánh người dùng FIFO lâu năm với người dùng LIFO lâu năm để kiểm tra các biến số có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp kiểm kê. Khảo sát các giám đốc điều hành tài chính để chứng thực kết quả của phân tích dữ liệu thứ cấp và tìm kiếm thông tin chi tiết mới về phương pháp kiểm kê sự lựa chọn. Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT hàng tồn kho gồm (1) tiết kiệm thuế ước tính, (2) tính trọng yếu của hàng tồn kho, (3) khoảng không quảng cáo, (4) quy mô doanh nghiệp, (5) đòn bẩy, và (6) hệ số thanh toán hiện hành.
Beattie, Vivien, và B. (1994) trong nghiên cứu bối cảnh vương quốc Anh đã tìm ra rằng các công ty chọn CSKT để tối đa hóa giá trị công ty trong việc giảm thiểu chi phí đại diện có thể khuyến khích lợi nhuận và tối đa hóa lưu chuyển tiền tệ trực tiếp. Những nhân tố khoản mục bất thường như là: rủi ro về kế toán, chi phí đại diện, cơ cấu sở hữu và chi trả cổ tức có tác động quan trọng việc lựa chọn CSKT để Trần Kim Ngân - 2083403011004 MACC020 Trang 10/142 làm tăng giảm lợi nhuận. Trong khi đó, các nhân tố bao gồm rủi ro thị trường, chi phí chính trị, công nghiệp và phần tùy chọn quản lý có ảnh hưởng không đáng kể.
Trái ngược với kết quả thước đo chi phí chính trị có tầm ảnh hưởng đáng kể trong nghiên cứu của Inoue Tatsuo và Wayne B. Mục đích của nghiên cứu này là điều tra các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến sự lựa chọn của các nhà quản lý về CSKT tại Nhật Bản. Một số yếu tố đã được đặt ra để ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đặc điểm kinh doanh chung của môi trường Hoa Kỳ khác biệt đôi khi rất lớn so với ở Nhật Bản.
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT ở Mỹ có thể không ảnh hưởng tương tự đến việc lựa chọn CSKT ở Nhật Bản. Do sự khác biệt về kinh tế, thể chế sắc thái và quan trọng nhất về sự khác biệt trong văn hóa. Bài nghiên cứu đã chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT tại Nhật Bản (1) quy mô doanh nghiệp, (2) thuế suất, (3) tỷ lệ tồn kho, (4) tiền thưởng, (5) nhu cầu tài trợ cho các hoạt động bên ngoài, (6) chính trị nước ngoài. Nghiên cứu của Young Steven (1998) “The Determinant of Managerial Accounting Policy Choice: Further Evidence for the UK”, dựa trên kết quả nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990) trên cở sở lý thuyết chi phí ký kết hợp đồng và lý thuyết ổn định lợi nhuận tiến hành nghiên cứu các công ty thuộc nghành công nghiệp và thương mại tại Anh.
Lý thuyết chi phí ký kết hợp đồng đặt ra giả thuyết tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và kế hoạch trả thưởng có mối tương quan thuận với sự lựa chọn CSKT. Lý thuyết ổn định lợi nhuận đặt ra giả thuyết mong muốn duy trì lợi nhuận ổn định ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách, cụ thể làm tăng lợi nhuận nếu lợi nhuận đạt được dưới mức mục tiêu và ngược lại nhằm giảm thiểu biến động trong báo cáo thu nhập. Dựa trên Lý thuyết chi phí ký kết hợp đồng, Michael J.Aitken và Janice A.Loftus (2009) nghiên cứu tập trung vào yếu tố nguồn vốn cũng như thu nhập của chủ sở hữu tác động thế nào đến sự lựa chọn CSKT thuộc nhóm ngành bất động sản tại Úc. Kết quả chỉ ra rằng khoản thưởng cho nhà quản trị hay thu nhập cho chủ sở hữu có ảnh hưởng cao đến sự lựa chọn CSKT.
Trần Kim Ngân - 2083403011004 MACC020 Trang 11/142 Nghiên cứu của Bosnyak (2003) về sự lựa chọn CSKT của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp nhỏ ở Hungary đã đưa ra mô hình với các biến quan sát cụ thể như: chi phí thuế, hình ảnh của doanh nghiệp, nhu cầu thông tin kế toán, tính nghề nghiệp và cách ghi nhận nghiệp vụ kế toán. Có thể nói đây là nền tảng cho các nghiên cứu sau này liên quan đến sự lựa chọn CSKT. Dựa trên đề xuất của Bosnyak (2003), nghiên cứu của Szilveszter Fekete và cộng sự (2010) xây dựng 20 biến đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT tại các doanh nghiệp ở Hungary. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát yêu cầu người trả lời chỉ ra mức độ mỗi nhân tố được liệt kê trong bảng câu hỏi ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp kế toán của doanh nghiệp.
Dữ liệu được thu thập từ những người đại diện như giám đốc tài chính, kế toán trưởng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Kết quả cho thấy có 6 nhân tố: thông tin, thuế, hình ảnh bên ngoài, hình ảnh bên trong, kinh tế, trung thực và hợp lý. Frank (2004) “Economic Determinants of Multiple Accounting Method Choices in a Swiss Context” nghiên cứu các nhân tố kinh tế ảnh hưởng đến sự lựa chọn các CSKT của các công ty niêm yết tại Thụy Sỹ. Kết quả cho thấy các nhà quản lý của các công ty có nhiều khả năng lựa chọn CSKT để điều chỉnh lợi nhuận và tỷ lệ đòn bẩy tài chính khi độ pha loãng quyền sở hữu cao và lực lượng lao động nhiều.
Mức vay nợ , quy mô công ty và chính sách thưởng cho nhà quản lý cũng có ảnh hưởng đáng kể. Tzovas Christos (2006) “Factors influencing a firm’s accounting policy decisions when tax accounting and financial accounting coincide” cho rằng dù CSKT tiết kiệm thuế có thể giúp cải thiện dòng tiền của doanh nghiệp, nhưng việc tìm cách giảm đi tiền thuế phải đóng luôn đi đôi với việc tìm cách công bố lợi nhuận thấp đi, và điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên sử dụng thông tin này cho việc ký kết hợp đồng hay ra quyết định. Theo đó sự lựa chọn CSKT chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố gồm (1) Mục tiêu lợi nhuận, (2) Mục tiêu tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế, (3) Sự nhận thức của các bên liên quan. Nghiên cứu không chỉ áp dụng ở Hy Lạp mà còn ở các quốc gia có đặc điểm môi trường kế toán tương Trần Kim Ngân - 2083403011004 MACC020 Trang 12/142 tự như một số quốc gia ở Châu Âu mà phần lớn vốn phụ thuộc vào vay nợ ngân hàng.
Việc hiểu rõ các nhân tố của sự lựa chọn CSKT không chỉ đóng góp cho các nghiên cứu học thuật mà còn là cơ sở phân tích kế toán và tài chính quốc tế, đóng vai trò quan trọng hầu hết các quyết định đầu tư.Donald Sinclair và Hanaa El‐Habashy (2007) từ những năm cuối thế kỷ 20, Ai Cập đã phát triển nhanh chóng từ một nước Xã Hội Chủ Nghĩa sang nền kinh tế thị trường phát triển đầy đủ kèm theo sự gia tăng cách biệt quyền sở hữu và quyền kiểm soát, do đó điều kiện để Dey, Colin R.Donald Sinclair và Hanaa El‐Habashy tiến hành nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT dưới những giả thuyết của lý thuyết thực chứng. Họ xem xét thêm một giả thuyết mới vào ba giả thuyết lý thuyết kế toán thực chứng đã có (Watts và Zimmerman(1990)) là thuế. Theo nghiên cứu của Dey, Colin R.