phần mở đầu, kết luận chung, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu bao gồm 5 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu nƣớc ngoài Steven Young (1998) với nghiên cứu “The Determinants of Managerial Accounting Policy Choice: Further Evidence for the UK”. Nghiên cứu đƣợc thực hiện với mục đích là xác định các nhân tố quyết định sự lựa chọn CSKT ở nuớc Anh đuợc thực hiện tại các công ty thuộc ngành công nghiệp và thuơng mại.
Các giả thuyết nghiên cứu của tác giả kế thừa từ nghiên cứu của Watts và Zimmerman trên cơ sở lý thuyết chi phí ký kết hợp đồng, lý thuyết ổn định lợi nhuận và lý thuyết tín hiệu thông tin. Lý thuyết chi phí ký kết hợp đồng chi phối giả thuyết nợ và giả thuyết kế hoạch tiền thuởng dựa trên lợi nhuận có mối quan hệ tích cực với sự lụa chọn kế toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc lựa chọn CSKT ổn định lợi nhuận là theo nguyên tắc kế toán thận trọng và các nhà quản lý sử dụng CSKT để thấy đƣợc dấu hiệu của dòng tiền mong muốn trong tƣơng lai đồng thời giảm khả năng vi phạm các hợp đồng nợ. Mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và CSKT có thể phản ánh những thay đổi trong khả năng vi phạm hợp đồng nợ.
Theo đó, trong từng thời kỳ, dựa vào mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và CSKT, các DN có thể lựa chọn CSKT để có lợi nhất cho mình. Tuy nhiên nhiều nhân tố quan trọng ảnh hƣởng đến quyết định quản lý đã không đƣợc xem xét trong nghiên cứu. Cullinan (1999) với nghiên cứu “International Trade and Accounting Policy Choice: Theory and Canadian Evidence”.Nghiên cứu của Charles khai thác một nhân tố mới ảnh hƣởng đến sự lựa chọn CSKT là các hoạt động thƣơng mại quốc tế. Hoạt động thƣơng mại quốc tế có thể tạo ra động lực lựa chọn CSKT theo hƣớng lợi nhuận ngày càng tăng thông qua kết quả kiểm tra thực tế sự lựa chọn phƣơng pháp trích khấu hao của các DN ở Canada.
Charles đặt ra giả thuyết là DN xuất khẩu có nhiều khả năng lựa chọn CSKT lợi nhuận tăng hơn DNkhông xuất khẩu và DNnhập khẩu nhiều khả năng lựa chọn CSKT lợi nhuận tăng hơn DN không nhập khẩu.Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng DN nhập khẩu thƣờng lựa chọn CSKT theo hƣớng lợi nhuận ngày càng tăng so với DN không nhập khẩu, xuất khẩu thì lại không có ảnh hƣởng đến sự lựa chọn 5 CSKT. Điểm mới của Charles là tác giả đã nghiên cứu thêm nhóm các bên liên quan khác mà các nhà nghiên cứu trƣớc không đề cập đến là khách hàng và nhà cung cấp nƣớc ngoài. Các bên liên quan có thể đánh giá khả năng của các đối tác thƣơng mại dựa trên cảm nhận sức mạnh tài chính vì thế các DN có hoạt động thƣơng mại quốc tế có thể lựa chọn CSKT tối đa hóa lợi nhuận. Bên cạnh đó nghiên cứu vẫn có một số hạn chế nhất định liên quan đến dữ liệu có sẵn và khả năng khái quát, kết quả nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi các DN có hoạt động thƣơng mại công khai.
Bosnyák (2003 ) với nghiên cứu “The effect of evaluation methods on the financial position, performance and cash flows of entites”. Tạm dịch: Các lựa chọn chính sách kế toán của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nghiên cứu đã xác định đƣợc các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT bao gồm chi phí thuế, hình ảnh doanh nghiệp, nhu cầu thông tin kế toán, tính nghề nghiệp và cách ghi nhận nghiệp vụ kế toán. Kết quả khảo sát cho rằng chi phí thuế là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm tỷ lệ 26,17% kế toán viên quyết định lựa chọn CSKT phù hợp), trong khi đó nhân tố thông tin lại tác động mạnh mẽ nhất đến sự lựa chọn chính sách kế toán trong các tập đoàn lớn.
Nghiên cứu của Bosnyák đã đƣa ra mô hình cũng nhƣ các biến quan sát cụ thể, có thể nói đây là nghiên cứu nền tảng cho các nghiên cứu sau này liên quan đến sự lựa chọn CSKT. Chirstos Tzovas (2006) với nghiên cứu “Factors influencing a firm’s accounting policy decisions when tax accounting and financial accounting coincide”. Tác giả cho rằng dù CSKT tiết kiệm thuế có thể giúp cải thiện dòng tiền của DN, mang lại ảnh hƣởng kinh tế nói trên nhƣng việc tìm cách giảm đi tiền thuế phải đóng luôn đi đôi với việc tìm cách công bố lợi nhuận thấp đi, và điều này lại ảnh hƣởng đến quyền lợi của các bên sử dụng những thông tin này cho việc ký kết hợp đồng hay ra quyết định. Tác giả nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến ra quyết định CSKT trong điều kiện kế toán và thuế là đồng nhất thông qua khảo sát các nhà quản lý của 200 DN lớn nhất Hy Lạp.
Theo đó, sự lựa chọn CSKT chịu ảnh hƣởng bởi các nhân tố gồm mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu tối 6 thiểu hóa nghĩa vụ thuế và sự nhận thức của các bên liên quan. Có thể nhận thấy sự mâu thuẫn lẫn liên quan giữa các nhân tố trên, khi DN tìm cách tối thiểu hóa thuế phải đóng dẫn đến giảm mức lợi nhuận báo cáo cung cấp cho các bên liên quan, điều này sẽ tác động xấu đến nhận thức của họ và làm chi phí vay vốn gia tăng. Hay nói cách khác, việc thực hiên chính sách nhằm mục tiêu giảm thuế sẽ kéo theo những chi phí khác không liên quan đến thuế do tác động số liệu kế toán dẫn đến thông tin không phù hợp cho các bên đầu tƣ. Cụ thể sự ảnh hƣởng ở đây là quyết định cho vay vốn từ các bên đầu tƣ, ảnh hƣởng đến giá cổ phiếu của DN hay để tránh việc vi phạm cam kết vốn vay.
Vì vậy, nghiên cứu đã ghi lại bằng chứng về mức độ lợi nhuận giảm mà DN mong muốn để giảm thuế và mức độ lợi nhuận tăng nhằm tạo điều kiện đi vay, tăng giá cố phiếu hay tránh cam kết vi phạm vốn vay. Nghiên cứu không chỉ áp dụng ở Hy Lạp mà còn ở các quốc có đặc điểm môi trƣờng kế toán tƣơng tự nhƣ một số quốc gia ở Châu Âu mà phần lớn nguồn vốn phụ thuộc vào vay nợ ngân hàng. Việc hiểu rõ về ảnh hƣởng qua lại giữa các nhân tố của sự lựa chọn kế toán không chỉ đóng góp cho các nghiên cứu học thuật, mà còn là cơ sở phân tích kế toán và tài chính quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong hầu hết các quyết định đầu tƣ. Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010) với nghiên cứu “Explaining accounting Policy choices of SME’s: An Empirical Research on the Evaluation Methods”.
Nghiên cứu của Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010) dựa trên nghiên cứu của Bosnyák (2003), đã giải thích sự lựa chọn CSKT của các DN vừa và nhỏ ở Rumani. Theo tác giả, các nhân tố tác động đến lựa chọn CSKT bao gồm 6 nhân tố là thuế, nhu cầu thông tin của đối tƣợng sử dụng BCTC, hình ảnh DN bên ngoài (đối với các bên liên quan), hình ảnh DN bên trong (đối với cổ đông hiện hành), kinh tế, xem xét tính trung thực và hợp lý. Dữ liệu đƣợc thu thập từ những ngƣời đại diện nhƣ giám đốc tài chính, kế toán trƣởng của các DN vừa và nhỏ. Đối với việc xác định các biến trong mô hình, tác giả dựa trên khuôn mẫu đề xuất của Bosnyák (2003) để xây dựng 20 biến đo lƣờng (biến quan sát) các nhân tố ảnh hƣởng đến sự lựa chọn CSKT.
Kết quả từ nghiên cứu của Szilveszter Fekete cho thấy nhân tố nhu cầu thông tin của ngƣời sử dụng BCTC 7 có ảnh hƣởng lớn nhất đến sự lựa chọn CSKT của DN, và thuế là nhân tố ảnh hƣởng thứ hai. Các nhân tố theo thứ tự ảnh hƣởng giảm dần đến sự lựa chọn CSKT là hình ảnh DN, sự xem xét trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, và cuối cùng là nhân tố kinh tế của DN. Marina Gurau (2014) với nghiên cứu “Three types financial statements: case study for Romania”cho rằng việc lựa chọn CSKT trong từng trƣờng hợp cụ thể với những mục tiêu khác nhau sẽ tác động đến BCTC, nhằm phản ánh tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của DN, từ đó cung cấp thông tin cho ngƣời sử dụng ra các quyết định kinh tế. Theo tác giả, việc lựa chọn CSKT là kết quả giữa mong muốn, kỳ vọng từ các nhà quản trị hay chủ đầu tƣ và sự tác động của các chuẩn mực đƣợc ban hành cần tuân thủ.
Vì vậy, thông tin phản ánh trên BCTC không đƣợc xem là hoàn toàn trung thực và hợp lý. Đối với việc lựa chọn CSKT, tác giả đƣa ra ba mục tiêu gồm: điều chỉnh lợi nhuận kế toán trong kỳ, bảo toàn vốn dài hạn và tuân thủ các quy tắc kế toán cũng nhƣ quy định luật thuế. Nhìn chung, nghiên cứu của Mariana Gurău góp phần làm rõ các phƣơng pháp, hƣớng dẫn cụ thể khi lựa chọn CSKT nhằm đáp ứng các mục tiêu của DN. Okpala, Kenneth Enoch (2016) với nghiên cứu “Factors influencing accounting policy choices under IFRS in Airline-GSA companies”.
Mục tiêu của nghiên cứu này là để đánh giá các yếu tố ảnh hƣởng đến việc lựa chọn các chính sách kế toán trong các công ty Đại lý bán hàng hàng không. Nghiên cứu sử dụng kích thƣớc mẫu là 101 nhân viên cấp cao của 10 công ty GSA. Kết quả đã kết luận rằng quy mô của DN không ảnh hƣởng đến lựa chọn CSKT. Mục tiêu về thuế của công ty có mối quan hệ đáng kể với lựa chọn CSKT.
Nghiên cứu này khuyến nghị rằng các công ty không nên quá tập trung vào việc lựa chọn CSKT nhằm đạt đƣợc mục tiêu về thuế mà nên tập trung vào lựa chọn chính sách kế toán nhằm nâng cao chất lƣợng thông tin của BCTC, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tƣợng sử dụng thông tin của đơn vị.2 Các nghiên cứu trong nƣớc Phạm Thị Bích Vân (2012) với nghiên cứu “Ảnh hƣởng của thuế thu nhập doanh nghiệp đến sự lựa chọn các chính sách kế toán của các doanh nghiệp 8 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”. Tác giả nghiên cứu ảnh hƣởng của thuế thu nhập DN đến sự lựa chọn các CSKT của các DN trên địa bàn Thành Phố Đà Nẵng.