CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của công tác DTNS. Trong chương này, sẽ thực hiện việc hệ thống hóa, phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu đã thực hiện có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Qua đó, xác định khe hổng nghiên cứu và đưa ra các định hướng nghiên cứu.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 1.1 Nghiên cứu của Yang Qi, 2010, The impact of the budgeting process on performance in small and medium-sized firms in China, The University of Twente, Doctoral dissertation.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã xác định 7 nhân tố là: Hoạch định ngân sách, mục tiêu ngân sách rõ ràng và mục tiêu ngân sách khó khăn, sự phức tạp trong ngân sách (công nghệ và mô hình được sử dụng trong ngân sách), kiểm soát quá trình ngân sách, sự tham gia của các bộ phận vào ngân sách, quy mô doanh nghiệp và loại hình doanh nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Trung Quốc. Kiểm soát ngân sách doanh nghiệp: Quy mô (X6) và Hình thức sở hữu (X7) của doanh nghiệp Hiệu quả của doanh nghiệp (Y1): Quá trình ngân sách: Y1a: Hiệu quả tài chính X1: Hoạch định ngân sách Sự tăng trưởng về doanh thu X2: Mục tiêu ngân sách rõ ràng Sự tăng trưởng về lợi nhuận Y1b: Hiệu quả ngân sách Mục tiêu ngân sách khó khăn Đạt được các mục tiêu ngân sách X3: Công nghệ và mô hình trong Động lực từ thiết lập ngân sách ngân sách. Y1c: Hiệu quả khác X4: Kiểm soát quá trình ngân sách Sự thỏa mãn trong công việc Sự liên quan với công việc Sự tham gia vào ngân sách: X5: Sự tham gia vào ngân sách Hiệu quả quản trị (Y2) Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu của Yang Qui 1 Trong mô hình này, các yếu tố được trình bày như sau: Hoạch định ngân sách: Ngân sách có chức năng lập kế hoạch để dự đoán đủ điều kiện hoạt động tương lai trong giới hạn tài chính, ngân sách cho thấy mối quan hệ với kế hoạch kinh doanh đặc biệt là kế hoạch chiến lược. Ngân sách dài hạn (từ 02 đến 10 năm) chi tiết về chi phí cho kế hoạch như: cơ sở vật chất, thiết bị, sản phẩm mới và đầu tư dài hạn khác.
Nó cũng liên quan đến một loạt các hoạt động, bao gồm việc tạo ra các dự án đầu tư phù hợp với mục tiêu chiến lược của công ty, ước tính sự gia tăng sau thuế dòng tiền hoạt động, ước đoán gia tăng luồng tiền của dự án đầu tư, lựa chọn các dự án dựa trên tiêu chí giá trị gia tăng tối đa, đánh giá lại các dự án đầu tư liên tục và thực hiện kiểm toán khi dự án hoàn thành. Đối với dự toán ngắn hạn, quy định cụ thể việc phân bố nguồn tài chính và các nguồn lực khác trong khoảng thời gian ngắn hạn (thường từ 01 đến 02 năm). Các dự toán riêng lẽ của các bộ phận tạo thành dự toán tổng thể trong ngắn hạn của công ty. Mục tiêu ngân sách rõ ràng và mục tiêu ngân sách khó khăn: “Mục tiêu rõ ràng đề cập đến mức độ mà các mục tiêu ngân sách được quy định cụ thể, rõ ràng và được hiểu bởi những người có trách nhiệm thực hiện chúng” (Yuen, 2004).
Các nhà quản lý làm việc với mục tiêu không rõ ràng thì đối mặt với sự không chắc chắn cao hơn trong việc đạt được mục tiêu thành tích; trong khi mục tiêu rõ ràng làm giảm sự không chắc chắn trong quá trình hoạch định ngân sách, từ đó sẽ cải thiện hiệu quả của các doanh nghiệp. Mục tiêu ngân sách có thể thay đổi từ mục tiêu rất “lỏng” và dễ dàng đạt được đến mục tiêu rất “chặt” và không thể đạt được. Mục tiêu khó khăn đòi hỏi nỗ lực, kiến thức, kỹ năng lớn hơn. Trong khi mục tiêu dễ dàng thì sự nỗ lực, kiến thức, kỹ năng ít hơn.
Theo Kenis (1979) cho thấy mục tiêu ngân sách “chặt” nhưng có thể đạt được là cách hiệu quả nhất để thực hiện tốt hơn, trong khi mục tiêu ngân sách “quá chặt” có tác động tiêu cực đến hiệu quả của các nhà quản lý và kết quả dẫn đến là sự căng thẳng công việc cao hơn. Sự phức tạp trong ngân sách: việc sử dụng cán bộ kỹ thuật, hệ thống máy tính và mô hình tài chính được dùng trong DTNS. DTNS như là một quy trình kỹ thuật để 2 phản ánh và thúc đẩy sự hợp lý trong việc ra quyết định (Covaleski và cộng sự, 1985). Theo đó, mức độ hợp lý của các quyết định DTNS được dựa trên mức độ chính xác của thông tin.
Merchant (1981), cho rằng việc thông qua dự thảo DTNS bao gồm việc sử dụng nhiều máy tính hơn, nhân viên kỹ thuật và mô hình tài chính, tăng cường điều chỉnh hoạch định dự toán ngân sách. Sự tham gia vào dự toán ngân sách: Khi thiết lập ngân sách, các thành viên của tổ chức có nghĩa vụ phải tham gia trong việc xác định các mục tiêu ngân sách rõ ràng và liên quan tới các sửa đổi phía sau với mục tiêu quản lý (Chalos & Poon, 2000). Và khi sai lệch ngân sách xảy ra, sự tham gia và thảo luận giữa các cấp quản lý nhằm xác định chính xác những lý do có thể gây ra sai lệch như vậy và những hành động khắc phục tương ứng được thực hiện. Sự tham gia ngân sách tạo thuận lợi cho việc chia sẻ thông tin giữa cấp trên và cấp dưới trong quá trình hoạch định và kiểm soát ngân sách (Subramaniam & Ashkanasy, 2001).
Quy mô doanh nghiệp: Quy mô doanh nghiệp như là một biến kiểm soát. Theo Merchant (1981) DTNS được sử dụng khác nhau trong các công ty có quy mô khác nhau, các công ty lớn hơn, đa dạng hơn có xu hướng sử dụng ngân sách chi tiết hơn. Ngược lại, các công ty nhỏ hơn ít dựa hơn vào ngân sách. Loại hình doanh nghiệp: Một số nghiên cứu thực nghiệm trong quá khứ của Firth (1996), O’Connor và cộng sự (2004) cho thấy có tác động tích cực của hình thức sở hữu trên hệ thống kế toán quản trị.
Như vậy, loại hình khác nhau của các doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng đến quá trình DTNS. Phân tích của họ dựa trên các công ty lớn, các công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán, còn doanh nghiệp nhỏ và vừa, mối quan hệ này vẫn chưa rõ ràng. Vì vậy, cần thiết kiểm tra ảnh hưởng của loại hình doanh nghiệp đến hiệu quả ngân sách tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hiệu quả trong Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Hiệu quả tài chính: “Những gì quan trọng nhất trong hầu hết các tổ chức đó là lợi nhuận”.
Các đo lường tài chính bao gồm một loạt các yếu tố, nhưng hiệu quả (như lợi nhuận trên vốn đầu tư ROI, lợi nhuận trên tài sản ROA…), lợi nhuận (bao gồm lợi nhuận 3 trên doanh thu ROS, lợi nhuận ròng, lợi nhuận gộp…) và tăng trưởng (như tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng thị phần, thay đổi thu nhập ròng…) là những đo lường đầu ra thường được lựa chọn. Doanh thu bán hàng và lợi nhuận đầu tư là các chỉ tiêu tài chính thường xuyên được sử dụng nhất (Murphy và cộng sự, 1996). Hiệu quả phi tài chính: Bên cạnh hiệu quả tài chính, hiệu quả phi tài chính (còn gọi là hiệu quả hoạt động) chẳng hạn như việc hài lòng của nhân viên với công việc và hiệu quả quản lý doanh nghiệp… được định nghĩa là một khái niệm rộng lớn hơn về hiệu quả của tổ chức (Kaplan,1983; Hofer & Sandberg, 1987). Trong nghiên cứu về hiệu quả ngân sách, hiệu quả quản lý là một trong những hiệu quả phi tài chính thường được sử dụng.
Thái độ nhân viên về sự tham gia quản trị trong quá trình lập ngân sách dẫn đến cải thiện lòng trung thành và cam kết của họ với tổ chức. Tác động của nhận thức liên quan đến sự rõ ràng của mục tiêu và các kỹ năng kỹ thuật đạt được của các nhà quản lý trong quá trình thiết lập ngân sách. Nghiên cứu của Lind và Tyler (1988); McFarlin & Sweenes (1992) cho rằng hiệu quả phi tài chính được sử dụng theo cách nhìn công bằng. Họ cho rằng cấp dưới thường xem đánh giá hiệu quả là quan trọng bởi vì nó liên kết với hệ thống phần thưởng mà quyết định “thù lao và thăng tiến”.
Vì thế, cấp dưới hi vọng quá trình đánh giá hiệu quả của họ là công bằng. Nếu quá trình này được coi là không công bằng, cấp dưới có thể có thái độ bất lợi đối với cấp trên của họ. Trong nghiên cứu của Yang Qui, hiệu quả ngân sách đề cập đến đạt được mục tiêu ngân sách của các nhân viên trong doanh nghiệp. Nó cũng bao gồm động lực mà nhân viên đạt được từ hoạch định ngân sách.
Đối với hiệu quả khác, nghiên cứu này chỉ bao gồm đo lường sự hài lòng và tham gia vào công việc ngân sách của nhân viên.2 Công trình nghiên cứu của Sofian Kochik, 2011, “Budget participation in Malaysian local authorites”. Aston University, the degree of doctor. Trong mô hình nghiên cứu này, theo tác giả này những yếu tố sau đây ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức của doanh nghiệp đó là: Ngân sách đầy đủ, Cam kết với tổ chức, Sự không rõ ràng/mơ hồ. Các yếu tố được trình bày như sau: 4 Ngân sách đầy đủ: là mức độ cá nhân nhận thức về nguồn lực ngân sách đầy đủ để đáp ứng yêu cầu công việc.
Cấp dưới có thông tin chính xác hơn so với cấp trên trong môi trường mà họ làm việc và họ có thể kết hợp các thông tin này vào thiết lập ngân sách. Cấp dưới sẽ cố gắng phối hợp, hỗ trợ vào ngân sách để đảm bảo rằng họ có đủ nguồn lực để thực hiện thành công nhiệm vụ của mình. Nếu nhân viên tin rằng tổ chức có trách nhiệm đảm bảo họ nhận được sự hỗ trợ đầy đủ về ngân sách, sẽ có khả năng tăng liên kết của nhân viên với tổ chức (Nouri & Parker, 1998). Theo Merchant (1981) và Murray (1990), sự tham gia của cấp dưới trong quá trình thiết lập ngân sách dẫn đến kết quả ngân sách kế hoạch và thực tế chính xác hơn.
Cam kết tổ chức: là liên kết của các cá nhân với tổ chức (Mathieu & Zajac, 1990; Shields & Shields, 1998; Nouri & Parker, 1998). Theo Meyer và các cộng sự (1990), việc cam kết với tổ chức đặc trưng bởi: (1) một niềm tin mạnh mẽ trong việc chấp nhận các mục tiêu và giá trị của tổ chức và (2) sự sẵn sàng để phát huy nỗ lực đáng kể trên danh nghĩa của tổ chức.