phần mở đầu, bài nghiên cứu này có 5 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan những nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến việc áp dụng hệ thống kế toán chi phí trên cơ sở hoạt động. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận.
Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN ÁP DỤNG HỆ THỐNG ABC 1. Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan: 1.1 Các nghiên cứu nƣớc ngoài: Nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu của Fuhanita Maelah và Daing Naris Ibrahim (2007) “Factors influencing acitivity based costing (ABC) adoption in manufacturing industry”. Ruhanita Maelah đã nghiên cứu nhân tố ảnh hƣởng đến việc áp dụng ABC ở các doanh nghiệp sản xuất tại Malaysia.
Nghiên cứu cho rằng mức độ áp dụng ABC tại các doanh nghiệp sản xuất tại Malaysia là tƣơng đối thấp với tỷ lệ 36%. Nghiên cứu cũng đã tổng hợp các nhân tố ảnh hƣởng đến việc áp dụng ABC từ các nghiên cứu trƣớc bao gồm các nhân tố liên quan đến 5 lĩnh vực: Tính cách cá nhân (Individual Characteristics), Các nhân tố thuộc tổ chức (Organizational factors), Các nhân tố kỹ thuật (Teachnological factors), Tính chất của công việc (Task characteristics) và Môi trƣờng bên ngoài (External environment). Từ đó, các tác giả đã tiến hành nghiên cứu ảnh hƣởng của bảy nhân tố đến việc áp dụng ABC tại các tổ chức sản xuất ở Malaysia: Khả năng sai lệch về giá (Cost distortion), mức độ hữu dụng của thông tin kế toán trong việc ra quyết định, chất lƣợng IT, quản lý cấp cao hoặc sự ủng hộ của tổ chức, chủ sở hữu không có chuyên môn trong lĩnh vực kế toán, các hoạt động đào tạo, huấn luyện và sự đo lƣờng hiệu quả hoạt động bên trong các doanh nghiệp. Các tác giả đã tiến hành khảo sát tại các doanh nghiệp sản xuất đƣợc niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Kuala Lumpur (KLSE) và các doanh nghiệp sản xuất đa quốc gia hoạt động tại Malaysia.
Các tác giả sử dụng thống kê mô tả, kiểm tra độ sai lệch, phân tích nhân tố, kiểm tra độ tin cậy và dùng mô hình hồi quy Logistic để nghiên cứu ảnh hƣởng của những nhân tố trên đến việc áp dụng ABC. Kết quả nghiên cứu cho 7 thấy các yêu tố ảnh hƣởng đến việc áp dụng ABC tại các doanh nghiệp sản xuất ở Malaysia là (i) Mức độ hữu dụng của thông tin kế toán trong việc ra quyết định, (ii) Sự ủng hộ của tổ chức và (iii) Sự đo lƣờng hiệu quả hoạt động bên trong các doanh nghiệp. Các tác giả cũng đã chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu là: thứ nhất, việc nghiên cứu thực nghiệm tại Malaysia bị hạn chế, cho nên, các nghiên cứu trong tƣơng lai có liên quan đến những vấn đề này nên thu thập nhiều dữ liệu hơn và cập nhật tình trạng áp dụng ABC tại Malaysia nhiều hơn. Hạn chế thứ hai của nghiên cứu này là chƣa tách biệt các mức độ áp dụng ABC tại những doanh nghiệp.
Krumweide (1998) đã chỉ ra tầm quan trong của việc làm rõ các giai đoạn hay mức độ áp dụng ABC. Cho nên, các tác giả của nghiên cứu này mong muốn các nghiên cứu tiếp theo sẽ hoàn thiện mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến việc áp dụng ABC. Theo các tác giả, hạn chế thứ ba là nghiên cứu này chƣa thể ghi nhận cả quá trình thay đổi và áp dụng vì việc áp dụng ABC ở Malaysia tại thời điểm nghiên cứu đang trong giai đoạn sơ khai, tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng ít (36%) và mức độ áp dụng ở giai đoạn bắt đầu. Vì vậy, các nghiên cứu tiếp theo có thể viếng thăm lại các doanh nghiệp để thu thập các dữ liệu, thông tin cập nhật hơn về sự phát triển của việc áp dụng ABC tại các doanh nghiệp.
Nghiên cứu thứ hai: Nghiên cứu của Appah, Ebimobowei và Bariweni Binaebi (2012) “Analysis Of Factors Influencing Activity Based Costing Application In The Hospatality Industry In Yenagoa, Nigeria”. Nghiên cứu đƣợc thực hiện trong giai đoạn từ tháng 9 cho đến tháng 12 năm 2010 tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ khách hàng (hospitality industry) thuộc phạm vi của thành phố Yenagoa, thủ đô của bang Bayelsa, Nigeria (Binaebi, 2013). Đối tƣợng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hƣởng đến việc áp dụng ABC vào các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ khách hàng, phạm vi nghiên cứu là 50 khách sạn. Bảng câu hỏi đƣợc gửi đến 250 ngƣời là những nhà quản lý và những ngƣời 8 làm công việc kế toán.
Các tác giả sử dụng mô hình đƣợc phát triển trong nghiên cứu của Maelah và Ibrahim (2007), Adamu và Olotu (2010) và Moll (2005) nhƣng đƣợc hiệu chỉnh theo bài nghiên cứu. Các tác giả đã đƣa ra 5 nhân tố ảnh hƣởng đến việc áp dụng ABC nhƣ sau: Khả năng sai lệch về giá, Mức độ hữu dụng của thông tin kế toán, Sự hỗ trợ của các nhà quản lý cấp cao, quản lý đo lƣờng hiệu quả hoạt dộng, đào tạo và huấn luyện. Kết quả của nghiên cứu cho thấy cả 5 nhân tố trên đều ảnh hƣớng đến việc áp dụng ABC tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ khách hàng. Kết quả của nghiên cứu cho thấy các mẫu thu thập đƣợc là hầu hết các khách sạn đều không áp dụng ABC và việc áp dụng ABC vào ngành khách sạn cũng còn ở giai đoạn ban đầu.
Các tác giả cũng đúc kết rằng việc áp dụng ABC cần có việc đầu tƣ vào các quỹ để đào tạo và huấn luyện, phát triển phần mềm và phần cứng, sự cam kết thực hiện của các nhân viên trong ngành dịch vụ khách hàng. Nghiên cứu thứ ba: Nghiên cứu của Taha Ahmadzadeh (2011) “Exploration of Factors Influencing on Choice the Activity Based Costing System in Iranian Organizations”. Nghiên cứu đƣợc thực hiện tại Iran vào năm 2009. Đƣợc khảo sát với 170 doanh nghiệp đƣợc niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran.
Có 57 kết quả trả về là hợp lệ và sử dụng đƣợc, đạt tỷ lệ là 33,5% (Ahamadzadeh, Etemadi, & Pifeh, 2011). Các tác giả đã sử dụng phƣơng pháp phân tích hồi qui Logistic, mô hình nghiên cứu và đo lƣờng các biến và kiểm định mức độ tin cậy Cronbach‟s Alpha. Trong bài nghiên cứu, tác giả cũng giải thích rằng mục đích và ý nghĩa của việc đo lƣờng mức độ tin cậy và sự ổn định của bảng câu hỏi là nếu nghiên cứu đƣợc thực hiện lại một lần nữa bởi những nhà nghiên cứu khác hoặc cũng nhà nghiên cứu đó tại nơi khác và thời điểm khác thì cũng sẽ cho kết quả tƣơng tự. Và Cronbach‟s Alpha thƣờng đƣợc sử dụng để đo lƣợng độ tin cậy của bảng câu hỏi.
Trong bài nghiên cứu, các tác giả phân tích dữ liệu thống kê bằng việc sử dụng mô hình hồi quy Logistic với phần mềm SPSS. 9 Theo các tác giả, mô hình hồi quy Logistic đƣợc áp dụng khi biến phụ thuộc chỉ có 2 kết quả và chỉ nhận một giá trị là 0 hoặc 1, trong đó 1 tƣơng ứng với việc có phụ thuộc và 0 tƣơng ứng với việc không phụ thuộc. Các tác giả đã nghiên cứu năm nhân tố ảnh hƣởng đến việc áp dụng ABC là: (i) Ngành nghề hoạt đồng, (ii) Quy mô của tổ chức, (iii) Cấu trúc chi phí, (iv) Mức độ quan trọng của thông tin chi phí, (v) Sự đa dạng về sản phẩm và dịch vụ. (i) Ngành nghề hoạt động: Các tác giả cho biết Shield (1997) cho rằng việc thiết kế và tính hiệu quả của thông tin và hệ thống kế toán chi phí chịu ảnh hƣởng bởi tính chất của ngành nghề.
ABC ban đầu đƣợc áp dụng cho các tổ chức sản xuất, vì vậy, các tổ chức sản xuất cũng đƣợc cho là sẽ áp dụng các hệ thống kế toán chi phí phức tạp hơn. (ii) Quy mô của doanh nghiệp: Theo nghiên cứu này, quy mô của doanh nghiệp là một nhân tố quan trọng ảnh hƣởng đến việc cần phải áp dụng một hệ thống quản trị phức tạp hơn. Các doanh nghiệp lớn hơn có khả năng tiếp cận với các nguồn lực để thử nghiệm các hệ thống kế toán phức tạp. (iii) Cấu trúc chi phí: Các tác giả cho rằng nếu tỉ lệ chi phí gián tiếp chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng chi phí trong một số ngành hoạt động kinh doanh thì việc áp dụng một hệ thống kế toán phức tạp là một điều không cần thiết.
Ngƣợc lại, nếu chi phí gián tiếp chiếm một tỉ trọng cao hơn thì tổ chức có nhu cầu áp dụng một hệ thống kế toán phức tạp hơn. (iv) Mức độ quan trọng của thông tin chi phí: Các doanh nghiệp nào áp dụng thông tin chi phí cho công việc tính toán hàng tồn kho, lợi nhuận nhiều hơn so với việc áp dụng thông tin chi phí cho việc ra quyết định thì thông tin chi phí sẽ kém chính xác hơn vì hệ thống chi phí quá đơn giản. (v) Sự đa dạng về sản phẩm, dịch vụ: Sự đa dạng về sản phẩm càng lớn thì đòi hỏi phải có một hệ thống chi phí phức tạp hơn để hỗ trợ cho việc sử dụng nguồn lực khác nhau của các sản phẩm khác nhau. Trong bài nghiên cứu 10 này, các tác giả đã chia sự đa dạng ra làm hai loại, sự đa dạng về số loại sản phẩm, dịch vụ và số lƣợng sản phẩm dịch vụ cung ứng trong một lô hay một lần sản xuất, cung ứng khác nhau.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng ABC chịu ảnh hƣởng của nhân tố thứ (iii) cấu trúc chi phí, (iv) mức độ quan trọng của thông tin chi phí, (v) sự đa dạng của sản phẩm, dịch vụ (chỉ đối với sự đa dạng số loại sản phẩm, dịch vụ).2 Các nghiên cứu trong nƣớc: Nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu của Trần Tú Uyên (2016) “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng tới khả năng áp dụng phƣơng pháp kế toán chi phí theo hoạt động (ABC) trong các doanh nghiệp dƣợc phẩm Việt Nam.” Nghiên cứu đƣợc thực hiện để phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến việc áp dụng phƣơng pháp ABC trong các doanh nghiệp qua việc điều tra tại các công ty Dƣợc phẩm ở Việt Nam. Các khảo sát đƣợc thực hiện trong giao đoạn từ tháng 5 năm 2015 cho đến tháng 8 năm 2015. Bảng câu hỏi đƣợc gửi đi đến 187 công ty dƣợc phẩm tại Việt Nam. Có 71 bảng khảo sát đƣợc hồi đáp (chiếm tỉ lệ 38%), trong đó có 15 bảng khảo sát là không hợp lệ.