CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM.1 Một số vấn đề lý luận chung về chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.1 Chi phí sản xuất 1.1 Khái niệm và bản chất chi phí sản xuất Khái niệm chi phí sản xuất Theo Giáo trình kế toán quản trị (2006),Trường ĐH Thương mại: “thuật ngữ chi phí có từ thời trung cổ (từ thế kỷ thứ V sau công nguyên) từ đó cho đến nay người ta vẫn quan niệm chi phí như là những hao phí phải bỏ ra để đổi lấy sự thu về”. Cho đến nay tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về chi phí. Xét dưới góc độ kế toán tài chính, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01- Chuẩn mực chung : “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Xét dưới góc độ kế toán quản trị: “Chi phí của doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho 1 thời kỳ nhất định.” ( Đặng Thị Hòa, 2006 ) “Từ các khái niệm cho thấy bản chất của chi phí là những hao phí đơn vị phải bỏ ra để đổi lấy sự thu về dưới dạng vật chất và định lượng được như số lượng sản phẩm hoặc thu về dưới dạng tinh thần hay dịch vụ được phục vụ.
Chi phí sản xuất là một bộ phận của chi phí, có tỷ trọng lớn trong tổng chi phí của doanh nghiệp.” 10 Như vậy, CPSX là những khoản cần thiết cho hoạt động sản xuất phát sinh tại các phân xưởng sản xuất gắn liền với các hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của DN. Bản chất kinh tế của chi phí được thể hiện ở các điểm sau: Một là: Nội dung của chi phí có thể biểu hiện bằng công thức: C+V+m Trong đó: + C là hao phí lao động vật hóa- giá trị của tư liệu sản xuất đã tiêu hao như khấu hao TSCĐ, chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ… + V là hao phí lao động sống như chi phí về tiền lương (tiền công) phải trả cho người lao động tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh. + m là một phần giá trị mới sáng tạo ra như các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, KPCĐ, các khoản thuế có tính chất chi phí như thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế nhà đất, chi phí lãi vay. Hai là: Các khoản chi phí sản xuất của doanh nghiệp được đo lường và tính toán bằng tiền trong một khoảng thời gian xác định theo kỳ kế toán.
Ba là: Xét ở góc độ DN, nó bao gồm tất cả các khoản chi phí mà DN phải chi ra để tồn tại và hoạt động. Trong các doanh nghiệp khác nhau do chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động trình độ nhận thức của nhà quản trị mà chi phí trong các doanh nghiệp không giống nhau. Chính vì vậy chi phí luôn có tính cá biệt. Bốn là: Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản: Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong một thời gian xác định; giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu hao và tiền công của một đơn vị lao động đã hao phí.
Năm là: Chi phí khác chi tiêu về lượng và về thời gian tại một thời điểm nhất định. 11 + Sự khác nhau về lượng: “Chi phí của doanh nghiệp không bao gồm các khoản chi tiêu làm giảm tài sản bằng tiền nhưng làm tăng tài sản khác trong doanh nghiêp và các khoản chi tiêu làm giảm tài sản nhưng đồng thời cũng làm giảm một khoản nợ phải trả của doanh nghiệp”. + Sự khác nhau về thời gian: “Do có sự không phù hợp về thời gian phát sinh các khoản chi tiêu và thời gian phát huy tác dụng của nó đối với thu nhập của doanh nghiệp. Như có khoản chi tiêu ở kỳ này nhưng còn được chờ để phân bổ vào chi phí của kỳ sau (chi phí trả trước), có những khoản chưa chi tiêu ở kỳ này nhưng được tính trước vào chi phí của kỳ này (chi phí phải trả)”.
Tại các doanh nghiệp, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại có tính chất kinh tế, công dụng khác nhau và yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau. Việc quản lý chi phí không chỉ căn cứ vào số liệu tổng chi phí mà phải theo dõi, kiểm soát dựa vào số liệu của từng loại chi phí. Bởi vậy, muốn quản lý tốt chi phí tất yếu phải phân loại chi phí.2 Phân loại chi phí sản xuất “Trong các doanh nghiệp sản xuất phát sinh nhiều loại chi phí có nội dung kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng trong quá trình sản xuất cũng khác nhau. Trong công tác quản lý chi phí sản xuất cũng như kế toán tập hợp chi phí sản xuất để nhận biết và động viên mọi khả năng tiềm tàng để hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp, có thể tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức khác nhau.”” a/Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng kinh tế Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm 3 loại (Nguyễn Tuấn Duy, 2010) : - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là giá trị nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Ngoài chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp còn bao 12 gồm chi phí nguyên vật liệu phụ( kể cả nhiên liệu) dùng trực tiếp trong sản xuất sản phẩm”. - Chi phí nhân công trực tiếp: "Chi phí nhân công trực tiếp là các khoản tiền lương, tiền công và các trích theo lương như KPCĐ, BHYT, BHXH, BHTN” của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm cung cấp dịch vụ; - Chi phí sản xuất chung: "Chi phí sản xuất chung bao gồm tất cả các chi phí sản xuất không thuộc hai khoản mục trên bao gồm chi phí lao động gián tiếp, phục vụ sản xuất; Chi phí nguyên, nhiên liệu dùng máy móc thiết bị phục vụ sản xuất cung cấp dịch vụ; Chi phí công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất; Chi phí khấu hao máy móc thiết bị, tài sản cố định khác dùng trong hoạt động sản xuất; Chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ sản xuất như điện, nước sửa chữa…; Chi phí bằng tiền khác”. Cách phân loại này là căn cứ để doanh nghiệp lập kế hoạch giá thành sản phẩm theo khoản mục chi phí. Đồng thời giúp tổ chức kế toán tính giá thành và phân tích giá thành, giá thành đơn vị sản phẩm theo khoản mục và để tập hợp chi phí theo địa điểm phát sinh chi phí phục vụ cho việc báo cáo sản xuất, báo cáo lợi nhuận cho các bộ phận sản xuất, từ đó có thể thúc đẩy và tăng cường hạch toán nội bộ.
b/Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí “Căn cứ tính chất kinh tế của chi phí sản xuất kế toán sắp xếp các chi phí phát sinh có cùng nội dung, tính chất kinh tế ban đầu vào một yếu tố chi phí mà không phân biệt công dụng kinh tế của chi phí đã phát sinh”. Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được phân chia thành các yếu tố chi phí cơ bản sau: (Võ Văn Nhị, 2007) - Chi phí nguyên liệu, vật liệu: “Bao gồm toàn bộ giá trị (gồm giá mua, chi phí mua) của các loại nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ xuất dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ báo cáo”. 13 - Chi phí nhân công: “Là các khoản chi phí về tiền lương phải trả cho người lao động, các khoản trích Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Kinh phi công đoàn theo tiền lương của người lao động”. - Chi phí khấu hao tài sản cố định: “Bao gồm toàn bộ các chi phí khấu hao tài sản cố định dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của đoanh nghiệp”.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: “Bao gồm toàn bộ chi phí doanh nghiệp đã chi trả về các loại dịch vụ mua từ bên ngoài như tiền điện, nước, điện thoại, vệ sinh và các dịch vụ khác phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của đoanh nghiệp trong kỳ báo cáo”. - Chi phí khác bằng tiền: “Bao gồm toàn bộ chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh chưa được phản ánh ở các chỉ tiêu trên, đã chi bằng tiền trong kỳ báo cáo như: tiếp khách, hội họp, thuê quảng cáo”… “Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo nội dung, tính chất kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với quản lý vi mô và quản lý vĩ mô. Đồng thời, cũng cho biết nội dung, kết cấu tỷ trọng từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã sử dụng vào quá trình sản xuất trong tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Số liệu chi phí sản xuất theo yếu tố là cơ sở để xây dựng các dự toán chi phí sản xuất, xác định các nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, xây dựng các kế hoạch về lao động, vật tư, tài sản trong doanh nghiệp”.
c/Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí: Theo cách phân loại này CPSX chia làm 2 loại: (Nguyễn Tuấn Duy ,2010) - Chi phí trực tiếp: "Là những khoản chi phí có quan hệ trực tiếp đến một đối tượng chịu chi phí nhất định. Do đó kế toán có thể căn cứ số liệu từ chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí”. 14 - Chi phí gián tiếp: "Là những chi phí có liên quan đồng thời đến nhiều đối tượng chịu chi phí khác nhau. Do đó kế toán phải tập hợp lại cuối kỳ tiến hành phân bổ cho các đối tượng liên quan theo những tiêu chuẩn nhất định”.
“Phân loại chi phí sản xuất theo cách này có tác dụng đối với việc xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng chịu chi phí một cách đúng đắn, hợp lý.