CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất 1. Khái niệm, bản chất của KTQT Trên thị trường hiện nay để có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững, các DN cần nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh so với các DN trong ngành. Để làm được điều này, các nhà quản trị DN cần xây dựng và phát triển hệ thống kế toán một cách hiệu quả nhất.
Kế toán góp phần rất quan trọng vào công tác quản lý các hoạt động kinh tế, tài chính. Để có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững, các DN cần nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh so với các DN trong ngành. Như vậy, KTQT là một bộ phận cấu thành của hệ thống thông tin kế toán nói chung trong các tổ chức kinh tế, đặc biệt là các DN kinh doanh. Thông tin KTQT với chức năng cơ bản nhất là công cụ hữu hiệu để các cấp quản lý đưa ra quyết định điều hành mọi hoạt động nhằm hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Cho đến nay tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về KTQT, có thể đưa ra một số định nghĩa sau đây về KTQT: Theo giáo sư, tiến sỹ Ronald.Hilton thuộc trường Đại học Cornell – Mỹ thì: “KTQT là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong các tổ chức, mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức” [5 - tr10] Theo các giáo sư, tiến sỹ: Jack.Keith và William.Slephens ở trường Đại học South – Floria, thì “KTQT là một hệ thống kế toán cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin định lượng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát” [5 - tr10] 10 Theo Ray.Garrosonviết trong cuốn Managerial Accounting của nhà xuất bản McGraw – Hill năm 2008:: “ KTQT có liên hệ với việc cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin định lượng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát” [5 - tr10] Theo luật kế toán Việt Nam (năm 2003) và Thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng KTQT trong DN : “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. “KTQT là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể. Các thông tin đó giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị nhẳm tối ưu hóa các mục tiêu.” (5, tr10) Theo tập thể tác giả Kế toán trường Đại học Thương mại viết trong giáo trình KTQT năm 2011 thì: “KTQT là một bộ phận của hệ thống kế toán DN, có chức năng thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin thỏa mãn nhu cầu của các nhà quản trị DN, là những người mà các quyết định và hành động của họ có liên quan trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của DN”. Từ những quan điểm trên có thể rút ra định nghĩa về KTQT như sau: “KTQT là việc thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin kinh tế về tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN, qua đó giúp cho nhà quản trị DN nắm bắt, đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của DN cũng như có cơ sở để lập kế hoạch và đưa ra các quyết định kinh doanh”.
Bản chất của KTQT thể hiện qua các đặc trưng sau: - KTQT là một bộ phận của công tác kế toán nói chung của DN, đồng thời là công cụ quan trọng không thể thiếu đối với công tác quản trị nội bộ 11 DN. KTQT được coi như một hệ thống nhằm trợ giúp cho các nhà quản lý ra quyết định, là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong DN. - KTQT cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một DN. Người sử dụng thông tin do KTQT cung cấp là những bộ phận và những nhà điều hành, quản lý trong DN.
- Thông tin của KTQT là nguồn thông tin chủ yếu giúp cho nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị: Lập kế hoạch, tổ chức và điều hành thực hiện kế hoạch, kiểm soát tình hình thực hiện kế hoạch và ra quyết định. Phân biệt KTTC với KTQT. - Kế toán được phân loại thành KTTC (KTTC) và KTQT. KTTC liên quan tới quá trình báo cáo hoạt động của một DN cho các cá nhân ở bên ngoài.
Thông tin được trình bày dưới dạng các báo cáo tài chính. KTQT bao gồm việc tập hợp các thông tin kế toán cho những người sử dụng trong nội bộ như giám đốc, các giám sát viên. Thông tin được sử dụng chủ yếu để giúp cho việc vận hành công việc kinh doanh của DN. - KTTC và KTQT cũng còn khác nhau về đặc điểm của thông tin.
KTTC trước hết liên quan đến việc báo cáo các sự kiện mà có thể biểu hiện bằng giá trị. KTQT thì bao gồm cả việc báo cáo các sự kiện theo hình thái vật chất. Hình thái vật chất có thể là tổng số giờ lao động của nhân viên trong đơn vị đã làm việc trong một tháng nào đó hay số nguyên vật liệu được dùng để sản xuất… Cuối cùng, KTTC thường có các nhân viên kế toán để lập các báo cáo hàng năm cho các cổ đông và các tổ chức tài chính. KTQT thì liên quan tới các báo cáo của một kỳ trong thời gian ngắn hơn, thí dụ như tháng, tuần hoặc cả ngày.
Nội dung của KTQT KTQT cung cấp thông tin một cách cụ thể, chi tiết theo yêu cầu quản lý của từng đơn vị. Thông tin KTQT không chỉ là thông tin về giá trị mà còn bao 12 gồm cả những thông tin khác như hiện vật hoặc thời gian lao động và phải đặt trọng tâm cho tương lai. Nội dung của KTQT phải được xác định theo yêu cầu cụ thể nhằm phát huy tác dụng đích thực của nó trong công tác quản trị. Về cơ bản nội dung KTQT như sau: Nếu xét theo mối quan hệ giữa KTTC và KTQT về nội dung các thông tin mà KTQT cung cấp thì KTQT DN gồm: - KTQT các yếu tố SXKD như hàng tồn kho, tài sản cố định, chi phí, lao động và tiền lương.
- KTQT chi phí và giá thành sản phẩm. - KTQT doanh thu và kết quả kinh doanh. - KTQT về các hoạt động đầu tư tài chính. - KTQT các hoạt động khác của DN.
Nếu xem xét quá trình KTQT trong mối quan hệ với chức năng quản lý, KTQT bao gồm các khâu: Nội dung của kế toán quản trị gồm[5 –tr.12]: “Lượng hóa và xây dựng dự toán ngân sách cho các mục tiêu hoạt động của DN”. “Phân loại và kiểm soát chi phí theo từng loại, từng thành phần, yếu tố chi phí. Tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành cho từng loại sản phẩm, từng công việc, từng hoạt động dịch vụ.” “Kiểm soát và cung cấp thông tin về tình hình thực hiện các dự toán, phân tích giải trình các nguyên nhân gây chênh lệch giữa thực hiện với dự toán”. “Thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin cần thiết, thích hợp giúp các nhà quản trị lựa chọn quyết định kinh doanh hợp lý”.
Nội dung các thông tin mà KTQT cung cấp phải có ích và phù hợp với từng bước trong quá trình ra quyết định của nhà quản trị. 13 Xác lập các chỉ tiêu kinh tế phục vụ công tác quản trị. Lợi nhuận là mục tiêu cơ bản, được đặt lên hàng đầu và được coi là cương lĩnh hoạt động của mọi DN. Từ mục tiêu chung đã xác định sẽ được nhà quản trị chính thức hóa bằng các chỉ tiêu kinh tế cụ thể.
Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản được xác lập là chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận và không thể bỏ qua chỉ tiêu về chi phí. Các chỉ tiêu này có mối quan hệ với nhau, chi phối lẫn nhau tạo thành hệ thống các chỉ tiêu và góp phần đảm bảo cho DN thực hiện được phương án tối ưu trong kinh doanh. Để đạt được các mục tiêu cũng như thực hiện tốt các chỉ tiêu đã xác định, các nhà quản trị cần phải phác thảo nên các bước thực hiện chi tiết theo từng nội dung và từng bộ phận sao cho phù hợp với mục tiêu. Xây dựng các dự toán SXKD.
“Dự toán là sự liên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách huy động và sử dụng những nguồn lực sẵn có để đạt được các mục tiêu đã đề ra.” [ 5- tr148] Các chỉ tiêu đã xác định trở thành căn cứ để lập kế hoạch chính thức. Trên cơ sở đó, kế toán soạn thảo văn bản và triển khai bản dự toán chung và các bản dự toán chi tiết để làm căn cứ tổ chức thực hiện, theo dõi và đánh giá trong quá trình thực hiện kế hoạch. Trong các DN, bao gồm các loại dự toán: “Dự toán tiêu thụ”, “dự toán sản xuất”, “dự toán mua nguyên vật liệu (NVL)”, “dự toán chi phí NVL trực tiếp”, “dự toán chi phí lao động trực tiếp”, “dự toán chi phí sản xuất chung”, “dự toán hàng tồn kho cuối kỳ”, “dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN”, “dự toán tiền mặt” và “dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh”. [5-tr149] Lập dự toán SXKD trước hết phải xuất phát từ đơn vị cấp cơ sở.
Các đơn vị cơ sở căn cứ vào đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý cụ thể của mình, nghiên cứu tình hình thị trường và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình 14 SXKD để lập dự toán về các chỉ tiêu quản lý, chuyển cho đơn vị cấp trên xem xét và phê chuẩn, nhằm ngăn chặn việc dự toán quá thấp dẫn tới hoạt động không hiệu quả và lãng phí. Sau khi đã hoàn chỉnh, được duyệt thì sẽ trở thành dự toán chính thức. “Trong quá trình xây dựng dự toán, lấy định mức thực tế làm cơ sở để phân tích so sánh giữa thực hiện với định mức. Kết quả tìm được phản ánh những hiện tượng không bình thường, những chỗ kém hiệu quả cần xem xét, tìm biện pháp khắc phục hay những tiềm năng cần phát huy.