CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Một số lý luận cơ bản về kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất 1. Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị Trong xu thế hội nhập và mở cửa thị trường, để có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững, các doanh nghiệp cần nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp trong ngành. Để làm được điều này, các nhà quản trị doanh nghiệp cần xây dựng và phát triển hệ thống kế toán quản trị một cách hiệu quả.
Hiện nay, việc nghiên cứu kế toán quản trị được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau. Theo Hiệp hội kế toán viên Hoa Kỳ (1982) thì “Kế toán quản trị là qui trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo cáo, giải thích và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp để đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”. Với quan điểm là hệ thống thông tin, Ronal.Hilton thuộc trường Đại học Cornell – Mỹ cho rằng “Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong các tổ chức, mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức”. Ở góc độ công việc cụ thể, Khoản 3, Điều 4, Luật kế toán Việt Nam năm 2003 cho biết “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
9 Các khái niệm trên cho thấy kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho nhà quản trị doanh nghiệp các thông tin hữu ích phục vụ cho việc ra quyết định một cách nhanh chóng và hiệu quả. Thông tư số 53/2006/TT – BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tài chính cũng đã cho rằng: “Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết dịnh đầu tư ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;… nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế”. Từ những khái niệm trên có thể thấy bản chất của kế toán quản trị thể hiện qua các đặc trưng sau: - Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung của doanh nghiệp, đồng thời là công cụ quan trọng không thể thiếu đối với công tác quản trị nội bộ doanh nghiệp. Kế toán quản trị được coi như một hệ thống nhằm trợ giúp cho các nhà quản lý ra quyết định, là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp.
- Kế toán quản trị cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp. Người sử dụng thông tin do kế toán quản trị cung cấp là những bộ phận và những nhà điều hành, quản lý trong doanh nghiệp. - Thông tin của kế toán quản trị là nguồn thông tin chủ yếu giúp cho nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị: Lập kế hoạch, tổ chức và điều hành thực hiện kế hoạch, kiểm soát tình hình thực hiện kế hoạch và ra quyết định. Đối tượng và nội dung của kế toán quản trị 1.
Đối tượng của kế toán quản trị Là một bộ phận cấu thành trong hệ thống kế toán nên đối tượng của kế toán quản trị cũng là đối tượng của kế toán nói chung. Tuy nhiên, nếu kế toán tài chính phản ánh tài sản, nguồn hình thành tài sản và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát thì kế toán quản trị phản ánh chi tiết các đối tượng. Kế toán quản trị tập trung nhiều hơn cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh theo các nội dung doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Kế toán quản trị cung cấp thông tin chủ yếu cho các nhà quản trị sử dụng nhằm quản lý, nghiên cứu và đưa ra quyết định trong hoạt động của đơn vị.
Do vậy, kế toán quản trị không chỉ thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin quá khứ về tình hình quản lý và sử dụng tài sản trong đơn vị một cách kịp thời, chi tiết theo yêu cầu quản lý mà còn thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin mang tính chất dự báo tương lai đến tài sản và hoạt động của đơn vị, phục vụ cho nhà quản trị trong việc hoạch định, lập kế hoạch và dự toán, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá hoạt động của đơn vị. Nội dung của kế toán quản trị Kế toán quản trị trong doanh nghiệp có nội dung rất rộng. Khi xác định nội dung của kế toán quản trị cần xem xét các yêu cầu cụ thể của nó, đồng thời phải xem xét trong mối tương quan với kế toán tài chính để đảm bảo cho kế toán quản trị không trùng lặp với kế toán chi tiết thuộc kế toán tài chính và phát huy được tác dụng đích thực của nó trong công tác quản trị doanh nghiệp. Nếu xét theo quá trình kế toán quản trị trong mối quan hệ với chức năng quản lý, kế toán quản trị doanh nghiệp bao gồm các nội dung: - Lượng hoá và xây dựng dự toán ngân sách cho các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.
11 - Phân loại và kiểm soát chi phí theo từng loại, từng thành phần, yếu tố chi phí. Tập hợp chi phí sản xuất, tính toán giá thành cho từng loại sản phẩm, từng công việc, từng hoạt động dịch vụ. - Kiểm soát và cung cấp thông tin về tình hình thực hiện các dự toán, phân tích giải trình các nguyên nhân gây chênh lệch giữa thực hiện với dự toán. - Thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tin cần thiết, thích hợp giúp các nhà quản trị lựa chọn quyết định kinh doanh hợp lý.
Nếu xét theo nội dung các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp, kế toán quản trị doanh nghiệp bao gồm các nội dung: - Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm - Kế toán quản trị bán hàng và kết quả kinh doanh - Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận - Lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra quyết định - Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh - Kế toán quản trị một số khoản mục khác như: Kế toán quản trị tài sản cố định, kế toán quản trị hàng tồn kho, kế toán quản trị lao động và tiền lương, kế toán quản trị các khoản nợ… 1. Vai trò của kế toán quản trị đối với hoạt động quản trị doanh nghiệp Kế toán quản trị là một bộ phận quan trọng trong hệ thống thông tin của một doanh nghiệp và các nhà quản lý phải dựa vào các thông tin này để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp đó. Kế toán quản trị không chỉ thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin quá khứ về tình hình quản lý và sử dụng tài sản trong một đơn vị mà còn thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin mang tính chất dự báo tương lai đến tài sản và hoạt động của đơn vị, phục vụ cho nhà quản trị trong việc hoạch định, lập kế hoạch và dự toán, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá hoạt động của đơn vị. Trên thực tế, các thông tin về 12 kế toán quản trị đóng một vai trò thiết yếu để các nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vai trò của thông tin kế toán quản trị đối với các chức năng quản lý được thể hiện trong các khâu của quá trình quản lý cụ thể như sau: - Trong khâu lập kế hoạch: Lập kế hoạch tại doanh nghiệp bao gồm việc xây dựng chiến lược, lựa chọn phương hướng hành động và cụ thể hoá các hành động cần triển khai. Một bộ phận quan trọng trong hoạt động lập kế hoạch là việc xây dựng các giải pháp và lựa chọn trong số đó giải pháp phù hợp nhất với chiến lược và mục tiêu phát triển của doanh nghiệp. Trong việc lập kế hoạch, nhà quản trị phải đề ra được những bước cần làm để đưa hoạt động của doanh nghiệp hướng về các mục tiêu đã xác định. Để ra quyết định, nhà quản trị phải cân bằng giữa những lợi ích tiềm năng do thị trường mới mang lại và các chi phí, nguồn lực hiện có của doanh nghiệp.
Trong số các dữ liệu quá khứ cần xem xét, kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin cho các nhà quản trị về doanh số bán hàng, lợi nhuận và các chi phí sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở các dữ liệu này, các nhà quản trị sẽ hoạch định ra các kế hoạch hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp. - Trong khâu tổ chức và điều hành: Tổ chức và điều hành liên quan đến việc huy động các nguồn lực con người và các nguồn lực khác trong doanh nghiệp để triển khai các kế hoạch và thực hiện các hoạt động thường ngày của doanh nghiệp. Trong quá trình thực hiện chức năng này, nhà quản trị phải giám sát các hoạt động thường ngày và đảm bảo cho hoạt động của tổ chức diễn ra một cách trôi chảy.
Chức năng này còn được thực hiện thông qua việc phân công nhiệm vụ cho từng thành viên, giải quyết các tranh chấp, trả lời câu hỏi, xử lý các vấn đề phát sinh và ra rất nhiều các quyết định hàng ngày ảnh hưởng đến các nhân viên cũng như khách hàng của doanh nghiệp. 13 - Trong khâu kiểm soát: Kiểm soát là quá trình nhằm đảm bảo cho từng bộ phận và cả tổ chức đi theo đúng kế hoạch đã đề ra, đồng thời thực hiện các thay đổi cần thiết để phù hợp với tình hình thực tế.