Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và giá thành trong doanh nghiệp xây lắp Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại tổng công ty 789 Chương 3: Các kết luận nghiên cứu và giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại tổng công ty 789 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1. Đặc điểm của hoạt động xây lắp ảnh hƣởng tới kế toán chi phí sản xuất và giá thành 1. Đặc điểm kinh doanh của các doanh nghiệp xây lắp Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm tái sản xuất tài sản cố định cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, tăng cƣờng tiềm lực kinh tế, quốc phòng và góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Do đó, quản lý tốt và hạch toán đúng đủ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Tuy nhiên, ngành xây dựng cơ bản cũng có những nét đặc thù riêng chi phối công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Những nét đặc thù đó là: Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc. thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân có quy mô và giá trị lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài. Do vậy, việc tổ chức quản lý và hạch toán nhất thiết phải có các dự toán thiết kế, thi công đƣợc lập theo từng công trình, hạng mục công trình.
Trong quá trình thi công xây lắp phải thƣờng xuyên so sánh kiểm tra việc thực hiện dự toán chi phí, tìm ra nguyên nhân vƣợt, hụt dự toán và đánh giá hiệu quả kinh doanh trên cơ sở lấy dự toán làm thƣớc đo. Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (xe máy, thiết bị thi công, ngƣời lao động.) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Mặt khác, hoạt động xây dựng cơ bản thƣờng tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hƣởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý, sử dụng, hạch toán tài sản, vật tƣ rất phức tạp, dễ bị mất mát, hƣ hỏng làm tăng chi phí sản xuất.
Bên cạnh đó, chu kì sản xuất của đơn vị xây lắp thƣờng rất dài, chi phí phát sinh thƣờng xuyên trong khi doanh thu chỉ phát sinh ở từng thời điểm nhất 9 định. Do đó, kỳ tính giá thành ở các đơn vị xây lắp thƣờng đƣợc xác định theo kỳ sản xuất. Vai trò của kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp Để quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, cần tổ chức công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành một cách chính xác, kịp thời, đúng đối tƣợng, đúng chế độ và đúng phƣơng pháp. Thông qua số liệu do bộ phận kế toán cung cấp, các nhà quản trị sẽ biết đƣợc chi phí và giá thành thực tế của từng loại hoạt động, từng sản phẩm và toàn bộ tình hình chi phí, kết quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện định mức dự toán, tình hình thực hiện kế hoạch, giá thành sản phẩm, từ đó đề ra các biện pháp hữu hiệu, kịp thời nhằm hạ chi phí và giá thành, đƣa ra các quyết định phù hợp cho sự phát triển sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản trị của doanh nghiệp.
Tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm xây lắp có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với lợi ích của doanh nghiệp, mà còn tăng cƣờng tích lũy và góp phần cải thiện đời sống ngƣời lao động, xây dựng xây lắp đất nƣớc phát triển giàu đẹp. Tổ chức kế toán chi phí sản xuất chính xác, hợp lý và tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm trong việc kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp nói chung và ở doanh nghiệp xây lắp nói riêng. Tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm là tiền đề xác định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tránh trình trạng lãi giả lỗ thật. Nhƣ vậy kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là phần không thể thiếu đƣợc trong các doanh nghiệp xây lắp, hơn nữa nó còn có ý nghĩa to lớn là chi phối chất lƣợng công tác kế toán toàn doanh nghiệp.
Nhiệm vụ của kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp Nhiệm vụ chủ yếu đặt ra cho kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp là: Xác định đối tƣợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tƣợng tính giá thành phù hợp với điều kiện thực hiện tại công ty. Phản ánh đầy đủ, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh. 10 Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí vật tƣ, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công và các chi phí dự toán khác, phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức, các chi phí khác ngoài kế hoạch, các khoản thiệt hại, mất mát, hƣ hỏng. trong sản xuất để đề xuất những biện pháp ngăn chặn kịp thời Tính toán hợp lý giá thành công tác xây lắp, các sản phẩm lao vụ hoàn thành của doanh nghiệp.
Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp theo từng công trình, hạng mục công trình từng loại sản phẩm lao vụ, vạch ra khả năng và các biện pháp hạ gía thành một cách có hiệu quả. Xác định đúng đắn và bàn giao thanh toán kịp thời khối lƣợng công tác xây dựng đã hoàn thành. Định kỳ kiểm kê và đánh giá khối lƣợng thi công dở dang theo nguyên tắc quy định. Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở từng công trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công tổ đội sản xuất… trong từng thời kỳ nhất định, kịp thời lập báo cáo về chi phí sản xuất, tính giá thành công trình xây lắp, cung cấp chính xác kịp thời các thông tin hữu dụng về chi phí sản xuất và giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp.
Các vấn đề chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất xây lắp 1. Khái niệm chi phí sản xuất xây lắp Chi phí của doanh nghiệp xây lắp mang tính cá biệt, nghĩa là các doanh nghiệp, đơn vị cùng thi công một công trình, hạng mục công trình nhƣ nhau nhƣng với trình độ quản lý, điều kiện sản xuất khác nhau thƣờng cho ra sản phẩm với kết cấu và độ lớn khác nhau. Tính cá biệt trong chi phí tạo nên sự khác biệt trong giá thầu, là nhân tố quyết định thành bại của các nhà thầu trong cuộc đua giành hợp đồng từ các chủ đầu tƣ.
11 Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất xây lắp trong một thời kỳ nhất định. Là toàn bộ chi phí về lao động sống, lao động vật hoá đã chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất xây lắp trong thời kỳ nhất định, đƣợc biểu hiện bằng tiền. Theo VAS15, nội dung về chi phí hợp đồng xây lắp gồm: - Chi phí liên quan trực tiếp đến từng hợp đồng có thể đƣợc giảm khi có các khoản thu khác không bao gồm trong doanh thu của hợp đồng. Ví dụ: Chi phí nhân công tại công trƣờng, bao gồm cả chi phí giám sát công trình; Chi phí nguyên liệu, vật liệu, bao gồm cả thiết bị cho công trình; Khấu hao máy móc, thiết bị và các TSCĐ khác sử dụng để thực hiện hợp đồng; Chi phí vận chuyển, lắp đặt, tháo dỡ máy móc, thiết bị và nguyên liệu, vật liệu đến và đi khỏi công trình;… Chi phí chung liên quan đến hoạt động của các hợp đồng xây dựng và có thể phân bổ cho từng hợp đồng bao gồm chi phí bảo hiểm, chi phí thiết kế và trợ giúp kỹ thuật không liên quan trực tiếp đến một hợp đồng cụ thể, chi phí quản lý chung trong xây dựng và các chi phí đi vay nếu thỏa mãn các điều kiện chi phí đi vay đƣợc vốn hóa quy định trong chuẩn mực chi phí đi vay.
Các chi phí khác có thể thu lại từ khách hàng theo các điều khoản của hợp đồng nhƣ chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí triển khai mà khách hàng phải trả lại cho nhà thầu đã đƣợc quy định trong hợp đồng. - Chi phí không liên quan đến hoạt động của hợp đồng hoặc không thể phân bổ cho hợp đồng xây dựng thì không đƣợc tính trong chi phí của hợp đồng xây dựng. Các chi phí này bao gồm: Chi phí quản lý hành chính chung, hoặc chi phí nghiên cứu, triển khai mà hợp đồng không quy định khách hàng phải trả cho nhà thầu. Chi phí bán hàng; Khấu hao máy móc, thiết bị và TSCĐ khác không sử dụng cho hợp đồng xây dựng.
12 Chi phí của hợp đồng bao gồm chi phí liên quan đến hợp đồng trong suốt giai đoạn kể từ khi ký hợp đồng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Các chi phí liên quan trực tiếp đến hợp đồng phát sinh trong quá trình đàm phán hợp đồng cũng đƣợc coi là một phần chi phí của hợp đồng nếu chúng có thể xác định riêng rẽ, có thể ƣớc tính một cách đáng tin cậy và có nhiều khả năng là hợp đồng sẽ đƣợc ký kết. Nếu chi phí phát sinh trong quá trình đàm phán hợp đồng đã đƣợc ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ khi chúng phát sinh thì chúng không còn đƣợc coi là chi phí của hợp đồng xây dựng khi hợp đồng đƣợc ký kết vào thời kỳ tiếp sau. Đặc điểm chi phí trong lĩnh vực xây lắp Đối với doanh nghiệp xây lắp thì chi phí công trình xây dựng là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng hoặc cải tạo, mở rộng hay trang bị kỹ thuật công trình.